TRUNG TÂM NHÂN ĐIỆN TÂY SƠN HÀ NỘI

Nghiên cứu »Nhân Điện và đời sống

NHÂN ĐIỆN & TRIẾT HỌC

NHÂN ĐIỆN & TRIẾT HỌC

Nhân Điện là một ngành học thuật tương đối hãy còn rất mới lạ đối với nhiều người, tổng quát Nhân Điện được biết đến như một ngành học y khoa trị bệnh không dùng dược phẩm thuốc men, thuộc ngành Y Học Bổ Sung, thành viên của Tổ Chức Y Học Bổ Sung Thế Giới, thành viên của Viện Y Học Bổ Sung Colombo, Sri Lanka.

Y khoa nói chung là ngành học chuyên nghiên cứu về bệnh tật, những phương thức phòng trị bệnh, bảo vệ sức khỏe con người, Đông y tượng trưng bởi nền y học Trung Hoa đã có từ nhiều ngàn năm trước đây, chủ yếu dùng dược tính của các loại cây cỏ để trị liệu bệnh tật, Tây y được nghiên cứu bởi các nhà khoa học Tây phương chủ yếu dựa trên các dược phẩm hóa chất, sau này được bổ sung bằng phẫu thuật, năng lượng. Hiện nay Tây y chiếm ưu thế trong việc chữa trị bệnh tật, được nhiều quốc gia tây phương nhìn nhận như một ngành y học chính thống, nhưng mà điều này không có nghĩa là chỉ có Tây y mới có thể chữa trị được bệnh tật, bảo vệ được sức khỏe con người, thực tế nhiều ngành Y Học Bổ Sung như khí công, châm cứu, yoga, Nhân Điện trong nhiều trường hợp cũng chữa trị được bệnh tật, phòng ngừa được ốm đau, bảo vệ được sức khỏe con người.

Y học hay thuốc men, Đông y hay Tây y, dược thảo hay hóa chất đều có thể chữa trị được bệnh tật con người, nhưng sức khỏe con người không chỉ dựa vào dược liệu, thuốc men mà sức khỏe con người còn phải dựa vào rất nhiều yếu tố khác, ngoài những yếu tố vật chất hữu hình, sức khỏe con người còn tùy thuộc nhiều yếu tố tâm lý, tư tưởng, tình cảm, tâm linh, siêu hình, đây là điều rất hiển nhiên và vô cùng thực tế, không cần dẫn giải chứng minh gì cả, nhưng cũng trên thực tế rất ít người chú ý những điều này và thật là phi lý khi chúng ta chỉ nhìn nhận giá trị của ngành học Tây y, không coi trọng những ngành học khác, không liên kết các ngành học khác trong việc trị liệu bệnh tật, bảo vệ sức khỏe con người.

Nhân Điện, thực ra không chỉ là một ngành y học bổ sung, một phương thức trị bệnh bằng Năng Lượng Vũ Trụ như tên gọi hay như sự hiểu biết của nhiều người, thực ra Nhân Điện là một ngành học tổng hợp của nhiều ngành học thuật khác nhau mà y học chỉ là một ngành học cơ bản của Nhân Điện, bởi vì chỉ có môn học trị bệnh mới dễ được con người đặc biệt quan tâm, ai cũng muốn được khỏe mạnh, những ai có bệnh hoạn ốm đau đều muốn được trị lành, nhất là những chứng bệnh gọi là nan y, những chứng bệnh mà các môn y học Đông Tây đều không chữa trị được. Nhân Điện đã ra đời trong những bối cảnh đặc biệt đó, giữa thời đại văn minh tân tiến, giữa những xứ sở văn minh nhất như Mỹ, Pháp, Đức, Ý, v.v… có những người bệnh, những chứng bệnh không thể chữa trị bằng bất cứ một phương tiện y khoa tân tiến nào mà phải nhờ đến sự chữa trị của Nhân Điện, nhanh chóng nhẹ nhàng và không tốn kém.

Hàng triệu người theo học hoặc chữa trị bằng Nhân Điện trong vòng hơn 20 năm qua là một bằng chứng xác thực nhất về hiệu quả của phương pháp chữa trị bằng Nhân Điện, bằng Năng Lượng Vũ Trụ nói theo khoa học và có thể chứng minh bằng khoa học, bằng Năng Lượng Tâm Linh nói theo tâm linh với những ai nhìn nhận những giá trị của những yếu tố tâm linh trong đời sống con người. Hiện nay Nhân Điện đã đi vào những giai đoạn mới, với những cấp lớp Nhân Điện cao cấp, Thầy Đáng dần dần hướng dẫn học viên học hỏi về Triết Học, đặc biệt là Triết Học Đông Phương, không chỉ để chữa trị bệnh tật ốm đau cho con người mà đặc biệt Triết Học còn đóng giữ những vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống con người.

Đau bệnh thực sự chỉ là chuyện nhỏ, đau khổ mới là điều quan trọng, một người đau bệnh vẫn có thể không đau khổ nhưng mà một người đang khỏe mạnh vẫn có thể đau khổ, cho nên dù chúng ta có y học, có thuốc men, có tất cả những phương tiện y khoa tân tiến nhất để bảo vệ sức khỏe, chữa khỏi bệnh hoạn, chúng ta vẫn cần đến Nhân Điện, cần đến Triết Học để tránh khỏi khổ đau, chúng ta không chỉ cần đến sức khỏe mà chúng ta còn cần phải có cuộc sống hạnh phúc, điều không có nền y học, y khoa nào có thể mang đến, chỉ có Triết Học mới có thể giải trừ đau khổ con người, mang lại hạnh phúc cho chúng ta, đó là lý do khi chúng ta theo học Nhân Điện, sau cùng chúng ta phải học về Triết Học.

Triết Học đối với nhiều người là danh từ văn chương khó hiểu, những lĩnh vực học hỏi nghiên cứu cao sâu, xa vời, thực ra Triết Học luôn luôn gần gũi, thân thiết, hiện diện thường trực trong đời sống con người, trong cuộc sống, tư tưởng, tình cảm, hành động của tất cả chúng ta. Quá khứ, hiện tại và tương lai, bất kể người nào, bất kể giàu nghèo, sang hèn, văn minh hay không văn minh, học thức hay là không học thức, thực ra hễ có cuộc sống là chúng ta có Triết Học và cuộc đời của chúng ta luôn luôn bị chi phối bởi những nền triết học chúng ta hấp thụ hay tiếp thu, chấp nhận hay từ chối, ý thức hay không ý thức.

Nói cho rõ hơn, nếu là nghiên cứu học hỏi, lý luận, v.v… thì Triết Học có thể là lĩnh vực gần như độc quyền của những người học cao, hiểu rộng, những học giả, hiền triết, những nhà lãnh đạo tôn giáo, tinh thần, nhưng trên phương diện thực tiễn, thực hành thì gần như tất cả mọi người đều cư xử, nói năng, hành động theo những ảnh hưởng của hoặc là nền triết học này hoặc môn triết học khác. Không ai có thể tránh khỏi ảnh hưởng của những tư tưởng triết học đã có trên xứ sở, đất nước, xã hội của mình, có điều là chúng ta thấy hay không thấy, biết hay không biết mà thôi, Triết Học luôn luôn hiện diện trong đời sống chúng ta như không khí luôn luân lưu trong buồng phổi mà chúng ta lại thường không để ý tới.

Chúng ta có thể bắt đầu học Triết Học bằng cái ý nghĩa đơn giản nhất của Triết Học là Tư Tưởng, khi chúng ta bắt đầu có tư tưởng là chúng ta bắt đầu có Triết Học và chính tư tưởng đã chi phối đời sống của chúng ta, chi phối tâm tư, tình cảm, hành động của chúng ta, chỉ có những người không có tư tưởng thì mới không có đời sống triết học, còn thì bất cứ ai, hễ có tư tưởng là có đời sống triết học và bởi vì mỗi người, mỗi cộng đồng, dân tộc, quốc gia, ở mỗi thời gian, không gian, có những tư tưởng khác nhau, cho nên chúng ta luôn luôn có những nền triết học khác nhau, đời sống khác nhau, văn minh khác nhau, hạnh phúc khác nhau, đau khổ khác nhau.

Mỗi người đều có tư tưởng và có tự do tư tưởng, tuy nhiên trên thực tế con người luôn luôn bị chi phối bởi một số tư tưởng lớn nào đó mà người ta gọi là Triết Học, đặc biệt là những tư tưởng về tâm linh mà người ta gọi là tín ngưỡng, tôn giáo. Tư tưởng có thể giúp con người tiến bộ văn minh, nhưng mà đồng thời tư tưởng cũng có thể dẫn dắt con người đến những sai lầm, tai họa, cho nên chúng ta phải rất cẩn trọng khi tiếp nhận bất cứ một nền tư tưởng triết học nào, Đông Tây hay Kim Cổ, vật chất hay tâm linh, Triết Học nào cũng có những ưu khuyết điểm của nó, cũng có những giá trị tương đối mà thôi, chúng ta không thể coi thường một nền triết học nào mà không thể quá coi trọng một nền triết học nào, mọi vật chất đều có thể biến đổi thì mọi tư tưởng đều có thể biến đổi, biến đổi ra sao, biến đổi thế nào, biến đổi khi nào là những điều chúng ta cần phải nghiên cứu, học hỏi.

Tại sao chúng ta cần phải nghiên cứu, học hỏi các nền Triết Học, đặc biệt là các nền Triết Học Đông Phương, bởi vì như chúng ta đã nói Triết Học là tư tưởng và Triết Học chi phối đời sống con người, tu tưởng đúng sẽ dẫn dắt con người đến một đời sống tốt đẹp hơn, duy trì đời sống cá nhân, gia đình, xã hội, quốc gia tốt đẹp, trái lại những tư tưởng sai lầm sẽ dẫn dắt chúng ta đến một đời sống xấu, phương hại cá nhân, gia đình, xã hội, quốc gia, nhân loại. Quá khứ nhân loại đã trải qua quá nhiều cuộc chiến tranh tương tàn đẫm máu, hiện tại nhiều nơi trên thế giới cũng đang tranh chấp, chiến tranh, tương lai thế giới vẫn không ngừng tranh chấp, hận thù; khoa học, kỹ thuật cần thiết cho tiến bộ văn minh nhưng chỉ có Triết Học mới giải quyết được những hận thù, tranh chấp của con người, đưa nhân loại đến một thế giới an bình, hạnh phúc.

Trở lại với những vấn đề cụ thể và thực tế, bệnh hoạn và sức khỏe con người, bỏ qua những nguyên nhân thông thường của bệnh tật, ốm đau, những điều kiện vệ sinh, môi trường, không khí, nước uống, vi trùng, v.v… những báo cáo y khoa mới nhất cho rằng sức khỏe, tuổi thọ con người tùy thuộc vào ý chí, tư tưởng con người, ý chí cầu sinh mạnh mẽ là thần dược giúp con người chống lại bệnh tật hữu hiệu nhất, tinh thần lạc quan yêu đời giúp con người sống lâu hơn, đau khổ buồn rầu, bi quan yếm thế là những nguyên nhân trực tiếp dẫn đến bệnh hoạn ốm đau, hận thù là chứng bệnh không có thuốc trị, v.v… tất cả những điều chúng ta vừa nói là phạm vi Triết Học, tên gọi của ngành Nhân Điện "Nhân Loại - Giác Ngộ - Tình Thương" chính là một tên gọi triết học với ba đối tượng nghiên cứu học hỏi Nhân Loại, Giác Ngộ, Tình Thương, những giải đáp về đau khổ, hạnh phúc của con người, những điều quan trọng ai ai cũng cần đến.

Tình thương là danh từ rất thông dụng, gần như ai ai cũng biết, ai ai cũng nói đến, nhưng mà ít có ai thấy những giá trị thực tiễn của nó, mỗi khi đau bệnh ai ai cũng nghĩ đến thuốc men mà không ai nghĩ đến tình thương, thực tế nhiều khi bệnh hoạn ốm đau chỉ cần đến tình thương thôi chúng ta cũng đủ để trị lành bệnh mà không cần đến thuốc men. Đây không phải là thứ lý thuyết suông mà là những điều rất thực tế, thí dụ chúng ta có thể trưng dẫn rất nhiều bằng chứng, nếu chúng ta biết thương thân xác của chính mình để không bắt nó phải làm việc quá sức, chắc chắn là chúng ta tránh được nhiều bệnh tật, chỉ cần chúng ta thương yêu những yếu tố tinh thần, tình cảm của mình, đừng hận thù, đừng lo lắng, đừng tức giận, đừng mưu cầu thì chắc chắn chúng ta sẽ giảm đi rất nhiều bệnh tật ốm đau.

Thương mình thì ích lợi cho bản thân mình, cái đó đã rõ nhưng thương người chắc chắn cũng mang lại muôn ngàn ích lợi cho bản thân, gia đình, xã hội, quốc gia, nhưng mà tình thương phải luôn luôn đi kèm với sự giác ngộ, nếu không có giác ngộ, thay vì mang lại lợi ích, tình thương có thể mang lại những điều tai hại. Giác ngộ mang tính triết học rõ ràng và nó đòi hỏi những công phu học tập thường thì lâu dài và khó khăn; giác ngộ là từ ngữ và đối tượng của các nhà tu hành mà trên thực tế cũng ít người đạt được trình độ giác ngộ, người thường càng khó có được sự giác ngộ mà nếu không có được sự giác ngộ thì con người không thể tránh được bệnh hoạn ốm đau, càng không thể tránh khỏi đau khổ và không thể nào có được hạnh phúc. Do đó, giác ngộ là một đối tượng học hỏi nghiên cứu, ứng dụng chủ yếu của ngành Nhân Điện, giác ngộ mọi vật và mọi việc, con người cần phải giác ngộ trong mọi hoàn cảnh, mọi sự vật, trong mọi thời gian, trong mọi không gian.

Thế giới hiện nay, kể cả những quốc gia nghèo khó nhất cũng xây cất nhiều trường học, nhiều quốc gia có đủ các loại trường học, có cả những trường Triết Học chuyên biệt, nhưng mà thực tế lịch sử nhân loại trong nhiều ngàn năm qua chưa hề có một trường lớp  nào dạy cho con người thứ Triết Học thực tiễn, vừa thực dụng và cao siêu như ngành Nhân Điện, thực dụng là Tình Thương, cao siêu là Giác Ngộ, đơn giản mà sâu xa, đơn sơ mà đầy đủ. Tình Thương của Nhân Điện không chỉ là thứ tình thương lý thuyết mà là thứ tình thương cụ thể và lợi ích, tình thương của Nhân Điện không phải là thứ tình thương suông mà là thứ tình thương có năng lực, gần như bất cứ học viên Nhân Điện nào cũng có được ít nhiều năng lực tâm linh để thực hiện tình thương bằng cách truyền điện để hoặc là cứu mình hoặc là cứu người.

Người học viên Nhân Điện không cần phải nói là mình thực hiện thực hành tình thương một cách vô vị lợi, cái này không thực tiễn và không thích hợp với tâm lý con người, với bản tính thiên nhiên con người nào cũng ham muốn lợi lộc, không có lợi lộc  không ai muốn làm, không ai muốn theo đuổi, điều quan trọng là những lợi lộc này cần phải hợp tình lý con người, hợp với xã hội, luật pháp, hợp với tâm linh, v.v…; cái lợi lộc tình thương người học viên Nhân Điện mưu cầu là sức khỏe, niềm vui, hạnh phúc, thể xác, linh hồn là những lợi lộc hoàn toàn chính đáng, đây là thứ triết học thực tiễn và hữu dụng của ngành Nhân Điện.

Từ ngữ Giác Ngộ của Nhân Điện có ý nghĩa tương tự từ ngữ Giác Ngộ của Phật Giáo và nhiều tôn giáo khác, nhưng mà ý nghĩa và nội dung của Giác Ngộ mà ngành Nhân Điện nghiên cứu, học hỏi, thực hiện thực hành không mang bất cứ màu sắc tôn giáo nào hết, Giác Ngộ là sự nhận thức chân thật nhất và thâm sâu nhất của mỗi con người đối với mọi sự vật, mọi sự việc, những nhận thức của tâm thức mỗi con người do sự chỉ dạy của Các Đấng Thiêng Liêng Cao Cả vô hình, không phải là của bất cứ ai, của bất cứ sách vở, kinh sách nào của loài người.

Cho nên chúng ta không thể nói Nhân Điện thuộc vào một ngành học nào, một tôn giáo nào, Giác Ngộ là giải thoát mọi ràng buộc của phong tục, tập quán, tư tưởng tư duy của người khác. Thế giới Tây Phương luôn đề cao tự do nhưng chỉ có tự do tư tưởng mới là tự do thực sự, nội dung Triết Học của ngành Nhân Điện là thứ Triết Học tự do, Giác Ngộ phải là giác ngộ tự do chứ không phải là giác ngộ theo bất cứ thứ tư tưởng nào, không phải là thứ giác ngộ của tôn giáo này hay tôn giáo khác, của tín ngưỡng này hay tín ngưỡng khác, của văn hóa này hay văn hóa khác.

Để có được thứ Giác Ngộ chân xác này, thứ Triết Học chân chính này, những lớp học Nhân Điện của Thầy Đáng gồm có hai phần, phần thực chất Thầy Đáng truyền năng lượng cho học viên, khoa học gọi là Năng Lượng Vũ Trụ, những người tin tưởng tâm linh gọi là Năng Lượng Tâm Linh, phần thứ hai Thầy Đáng giảng giải những câu hỏi, thắc mắc của các học viên, những câu hỏi không hạn chế đề tài về cuộc sống, vật chất hay là tâm linh, thực tế chứng minh là Thầy Đáng đã đạt tới trình độ Giác Ngộ tâm linh cho nên gần như bất cứ câu hỏi nào của học viên, dù trong bất cứ lĩnh vực nào Thầy Đáng cũng đều có thể trả lời, và trả lời ngay tức khắc, không cần thời gian suy nghĩ, không có sách vở nghiên cứu, không có trình độ giác ngộ tâm linh cao Thầy Đáng không thể thực hiện được điều này, điểm quan trọng nhất là Thầy Đáng dạy cho môn sinh của Thầy cũng đạt được trình độ minh triết giác ngộ.

Minh triết giác ngộ là nói chung, dù cho được học hỏi thế nào, mỗi người có một tâm linh khác nhau, cho nên mỗi người cũng có một trình độ minh triết giác ngộ khác nhau, ứng dụng trong mỗi hoàn cảnh khác nhau, cho nên mỗi lớp học Thầy Đáng có những lời giảng giải khác nhau, mỗi lời giảng giải thường chỉ có tính cách khai tâm, thí dụ chứ không có tính cách khẳng định, bởi vì như Thầy Đáng thường nói chân lý là thay đổi, minh triết cũng là thay đổi, giác ngộ cũng là thay đổi, cho nên chúng ta không thể có một lời khẳng quyết nào cho bất cứ vấn đề nào, sự việc nào, một câu nói hôm nay có thể đúng nhưng ngày mai thì có thể là không đúng và ngược lại, đây cũng là một bài giảng triết học khá phù hợp với thuyết khoa học tương đối của nhà bác học Albert Einstein.

Nhân Điện và Thầy Đáng chỉ đề ra vỏn vẹn ba mục tiêu học hỏi nghiên cứu “Nhân Loại, Giác Ngộ, Tình Thương”, nhưng nếu thực hiện thực hành được đầy đủ, đúng đắn ba mục tiêu nghiên cứu học hỏi này, chúng ta không cần phải thắc mắc Nhân Điện là ngành học gì, Nhân Điện có phải là ngành y khoa hay không, có là y khoa chính thống hay y học bổ sung, không cần thắc mắc Nhân Điện là một ngành học tôn giáo, tư tưởng hay là Triết Học, điều chúng ta cần biết là Nhân Điện có thể mang lại cho chúng ta những điều chúng ta, con người, cá nhân, gia đình, xã hội, quốc gia đều mơ ước: hạnh phúc, may mắn, sức khỏe, niềm vui, v.v….

 

 

Mankind – Enlightenment - Love

Tin khác
Home

Bản Quyền

Nội dung của website này được bảo vệ bởi Luật bản quyền. Website được đăng ký tại Cục Sở Hữu Trí Tuệ Việt Nam và được bảo vệ bởi Luật Pháp.Cấm mọi hình thức sao lưu phát tán , copy dữ liệu trên website mà chưa được sự đồng ý của chúng tôi.

Bài báo

Bài báo nghiên cứu , thảo luận và các vấn đề liên quan

Thư Viện

Thư viện chứa các video, audio, sách về Nhân Điện

Liên Hệ

TRUNG TÂM NHÂN ĐIỆN TÂY SƠN.