Nghiên cứu »Chuyện sưu tầm »Lạc vào tiền kiếp

Lạc Vào Tiền Kiếp


Sinh thuộc dòng dõi thư hương, người Nhã Nam. Tuổi thanh niên đầy nhiệt huyết cộng với giáo huấn nghiêm minh của phụ thân, chàng sớm sủa gặt hái nhiều thành đạt trên con đường khoa bảng sau mười mấy năm trường miệt mài ở trong cửa Khổng sân Trình sôi kinh nấu sử. Tuổi trẻ tài cao, bước thang mây của cuộc đời chàng rõ ràng đang thênh thang rộng mở. Hỡi ơi, chàng đi chưa được mấy bước trên nẻo đường sự nghiệp văn hóa mà chàng say mê thì quê nhà xảy ra cuộc chính biến Thất Ngũ, mọi kế hoạch, dự tính của chàng tuôn theo dòng nước lũ. Chán nản, chàng bèn giong buồm lưu lạc giang hồ với hai bàn tay trắng. Trải nhiều phen sóng gió ruổi dung, thuyền chàng tấp vào bến nước Du Sa.

Sau mấy năm bỏ hết thời gian vào chuyện đánh vật với áo cơm và miệt mài nghiên bút trở lại trên đất nước người, một đêm nằm gác tay lên trán, Sinh bỗng chợt nhận ra rằng con người chàng không thể nào chịu đựng được cái cảnh “sáng xách ô đi tối xách về” vào luồn ra cúi, khom lưng cho người ta sai khiến được. Vốn đã thừa hưởng truyền thống tự lập tự cường của gia đình, chàng quyết định gom góp hết tài sản dành dụm bấy lâu, lần dò đến Thất Xích Châu tìm kiếm cơ hội vươn lên.

Ở Thất Xích Châu, không nề hà sóng nước hiểm nguy gian khổ trên biển cả, chàng cật lực làm việc, quên tháng quên ngày. Với trí tuệ và tài năng cộng thêm sự cần cù nhẫn nại, mấy năm liền chàng thành công lớn, những tưởng sẽ trở thành một tay cự phú không lâu. Lại cũng không ngờ, trời bày một cơn giông tố, bao nhiêu tàu bè và bến bãi của chàng tậu được trong thời gian qua bị hư hỏng nặng nề, bỏ tiền ra tu bổ vừa xong chưa kịp thu lại vốn liếng thì thình lình nghe tin, một tàu dầu bị vỡ làm đôi ở ngoài khơi đúng vào khu vực hoạt động của ngư phủ cung cấp hải sản cho chàng, thế là, chàng gần như trắng tay trở lại. Giã từ bãi Gia Viết Tân ở Thất Xích Châu, chàng rũ áo bỏ biển lên bờ.

Lần này, chàng quyết định khăn gói lên đường trở về Phượng Sồ Vệ Nhã Châu, trở về Mộc Ðịa Nhai, một khu vực cách Phiêu Ly Thành đôi ba dặm về phía tây nam, nơi mà ngay buổi đầu tiên huynh đệ chàng chân ướt chân ráo đến tạm cư. Kỳ thật, Mộc Ðịa là tên của một con đường mà mọi sinh hoạt thương mại của dân chúng quanh vùng tập trung vào đó nên người ta vẫn quen gọi là khu Mộc Ðịa Nhai. Sinh trở về Mộc Ðịa Nhai trước hết là để nghỉ ngơi sau một thời gian dài mệt mõi cật lực phấn đấu với đời, sau nữa là tìm kiếm một cơ hội kinh doanh khác.


Mùa hè, một buổi chiều nhàn rỗi, Sinh men theo một con đường mòn trong vùng đi rong chơi hướng lên một ngọn đồi thấp. Ngọn đồi thật ra là một công viên nhỏ không có rào chung quanh nhưng có một cái cổng gỗ hờ hững nằm ngay lối vào, trên cổng có tấm biển nhỏ, Sinh ghé mắt nhìn đọc được mấy chữ “Cốc Tích Viên” đã nhạt nhòe. Trên đồi là những gốc tùng, gốc phong già cỗi, cành lá, cội rễ khẳng khiu vặn vẹo, áng chừng là cây đã sống ở đấy cả trăm năm hơn. Bên triền đồi có một khu mộ địa, Sinh lẩn thẩn đi vào khu mộ địa. Ða số những nấm mồ ở đấy đã trải qua nhiều năm tháng, Sinh tò mò ngồi xuống đọc hết mộ chí này đến mộ chí khác. Nhìn tên họ khắc trên mộ bia chàng biết được những nắm xương tàn kia cũng giống như chàng đã lưu lạc đến đây từ nhiều nơi trên thế giới. Ði chán, thấy bên triền đồi dưới một gốc cổ tùng có phiến đá phẳng, chàng bèn đến đấy ngồi nghỉ chân.
Buổi chiều,nhìn cảnh vật chìm đắm trong nắng quái hắt hiu, gió phất phơ lay động mấy ngọn cỏ dại mọc quanh những mộ chí bám đầy rong rêu xiêu vẹo, lòng Sinh dâng lên một mối cảm hoài, chàng ngậm ngùi cho số phận của con người. Chàng mường tượng con người nằm dưới kia phải chăng cũng đã một thời bôn ba xuôi ngược, tranh giành hơn thua từng chút một với cuộc đời để mong đoạt được vài ba ước vọng nào đó. Và họ thành công hay thất bại? Mà rồi thành công hay thất bại, trước mặt chàng hôm nay cũng chỉ còn lại một nắm đất khô cỏ áy bóng tà. Tiền bạc đâu? Danh vọng đâu? Hậu nhân của họ giờ này có còn ai đang hưởng thụ những thành quả ấy, có còn ai biết đến những khó nhọc mà họ đã vượt qua. Nhắc đến hậu nhân, đến người đời sau của họ, Sinh hốt nhiên bàng hoàng nghĩ đến hậu nhân của mình, và chàng cảm thấy ngao ngán ngậm ngùi thêm.

Những người đàn ông khác ở lứa tuổi của chàng giờ này ai nấy đã con đàn cháu đống, lại còn có những vị sẵn sàng lên chức nội, ngoại không chừng. Mà chàng, quanh đi quẩn lại chỉ có một mình vào ra thui thủi. Ðâu phải Sinh kém tài kém đức, đâu phải chàng quá phàm phu tục tử hay là một thư sinh nghèo kiết xác đến nỗi không tìm được một hồng nhan tri kỷ mà bầu bạn sớm hôm, mà nâng khăn sửa túi, mà sinh con đẻ cái để nối giòng giữ giống cho chàng. Trải băm mấy năm làm người, từ lúc còn là một thư sinh nghịch ngợm cho đến khi thành một nhà mô phạm nghiêm khắc, thành một chủ nhân ông trẻ tuổi, chàng đã có nhiều cơ hội gặp gỡ, tiếp xúc với không biết bao nhiêu là mỹ nhân trong thiên hạ ở mọi tầng lớp xã hội. Cũng có nhiều lúc chàng cảm thấy háo hức, xao xuyến khi trông thấy một bóng hồng tha thướt, một nhan sắc mỹ miều, và cũng có lúc chàng tưởng đã được một mái gia đình yên ấm như bao người khác, nhưng rồi khi tiến sâu vào quan hệ của đôi bên, chàng thường hay trở thành người rút lui có trật tự hay …dậm chân tại chỗ vì một lý do gì đó khiến chàng không thoải mái để rồi đường ai nấy đi. Rút cục lại, chàng vẫn cứ cô đơn và cô đơn. Có phải chàng lý tưởng hóa cuộc đời quá chăng? Có phải chàng quá vô duyên chăng? Chàng luôn là người thành công trong việc chinh phục phụ nữ kia mà…Chàng chưa tìm thấy câu trả lời nào thích đáng cũng như chưa tìm thấy được ý nghĩa đời sống này của chàng. Chàng đã phấn đấu miệt mài, chàng nỗ lực liên tục trong công việc thường nhật,chàng không có thú vui nào để đam mê, hưởng thụ đời sống như bao người đàn ông khác, chàng không rượu chè bê tha,không đắm đuối cờ bạc gái trai…Tất cả thời gian của chàng từ thời niên thiếu cho đến bây giờ đều nỗ lực dồn vào mục đích xây dựng một mái gia đình vững chắc theo truyền thống Á Ðông mà tổ tiên chàng đã sống qua bao thế hệ. Chàng từ chối mọi thú vui mà những người đàn ông khác đã say mê, đối với chàng chỉ có sự nghiệp là trên hết và cứ như thế chàng miệt mài làm việc và làm việc, chàng không cho phép mình sống hưởn đãi, dể duôi. Chàng luôn luôn bắt mình phải là một người xuất sắc từ thuở bé thơ, và cho dù bây giờ chàng đã có thể ngừng nghỉ để hưởng thụ đời sống, để vui chơi, nhưng chàng đã không như vậy, chàng còn đang tìm kiếm một cơ hội khác để đấu tranh, để thách đố với cuộc đời. Ðối với chàng đó là những điều chàng phải làm cho bằng được, và chàng đã làm được, dù có thất bại chàng cũng sẽ không bỏ cuộc bao giờ. Nhưng …chàng làm tất cả những việc đó để làm gì, cho đến bây giờ chàng cũng chưa biết được…

Mãi chìm đắm trong trầm mặc, Sinh không hay chàng đã đứng lên tiếp tục đi theo con đường mòn bên triền đồi hướng về phía gió có thoảng một mùi hương quen thuộc dễ chịu. Sinh chưa định được đấy là mùi hương gì, chỉ biết nó gây cho chàng một cảm giác lâng lâng nhẹ nhàng, nó gợi lại trong lòng chàng một xúc cảm êm đềm mà dường như chàng đã đánh mất từ lâu lắm trong đời. Sinh vẫn bước đều đặn theo mùi hương một cách vô ý thức, tư tưởng chàng vẫn triền miên không rời khỏi những dấu hỏi nặng nề to tướng về kiếp nhân sinh.

Cảm thấy trong người thoải mái, bất giác Sinh ngẩng mặt lên trời thở một hơi dài khoan khoái, chàng bỗng nhìn thấy bên kia đồi phía cuối đường mòn, ẩn hiện một mái ngói rêu phong dưới tàng cây xanh rì rậm rạp, vài làn khói mỏng lững lờ tản mát trên đầu cây ngọn cỏ, ánh tà dương hiu hắt như một dãi lụa vàng úa, trải mong manh lên mái ngói xanh rêu tạo thêm tĩnh mịch cho khung cảnh, đồng thời tai chàng nghe văng vẳng tiếng chuông ngân. Sinh định thần nhìn kỹ. Thì ra đó là một ngôi chùa cổ kính. Không, một am đường thì đúng hơn, thảo nào chàng ngửi được mùi hương trầm, cái mùi hương mà lúc còn là thư sinh không bao giờ thiếu trong thư phòng của chàng. Sinh nghĩ thầm “Quái lạ, tại sao nơi đây có một ngôi chùa, mà lại cổ kính như vậy”, chàng chưa hề nghe các em của chàng nhắc đến điều này bao giờ. Tuy là nhìn từ xa nhưng thấy dáng vẻ bề ngoài của nó, chàng ước chừng ngôi chùa đã được dựng lên ít nữa cũng vài trăm năm. Tính hiếu kỳ nổi lên, Sinh nhủ thầm nhất định phải đến xem cho biết. Sinh đoán từ chỗ chàng đi đến đấy độ chừng nửa canh giờ là nhiều, nhưng Sinh cứ đi hoài, đi hoài không biết là bao lâu. Càng đi đến gần hơn,Sinh mơ hồ nhận ra khung cảnh dường như rất quen thuộc với chàng, chàng cố vận dụng trí óc để nhớ lại xem đây là đâu, nhưng càng cố nhớ Sinh càng cảm thấy mù mịt và chàng cứ tiếp tục đi.

Khi chàng tới cạnh cái hàng rào thưa bằng nứa đã xiêu vẹo, chằng chịt những giây leo đầy hoa tím thì chàng không còn thấy ánh mặt trời đâu nữa, một thứ ánh sáng huyền hoặc khác soi mờ mờ đủ cho chàng thấy cánh cổng gỗ cũng đã mục nát chỉ chực đổ nhào xuống nếu như chàng đẩy mạnh vào nó. Sinh đứng tần ngần ngó quanh xem có ai để cho chàng hỏi thăm không, chàng ngóng cổ nhìn vào bên trong, chỉ thấy vuông sân rộng đầy ánh trăng, lối đi vào cửa chính lác đác vài phiến đá vuông đã mòn nhẵn, hai bên lối đi là những cái đôn sứ trên có chậu cây kiểng trồng theo lối bồn tài được bài trí không theo hình thể nhất định nào, sâu vào phía trong, mái ngói thấp lè tè, màu trăng ánh lên màu rêu bàng bạc, một nửa mái ngói bị che khuất bởi rặng liễu xanh phơ phất dưới ánh trăng, bên dưới màn liễu lơ thơ chàng thấy thấp thoáng ánh bạch lạp le lói. Ðứng thêm một lúc lâu, vẫn không thấy ai, Sinh đẩy nhè nhẹ cánh cổng gỗ, may quá cổng không có cài then bên trong, Sinh theo lối đá chầm chậm đi vào. Qua khỏi rặng liễu xanh thì chàng thấy được bậc tam cấp dẫn lên cửa chính nhưng cửa đang đóng kín, ánh bạch lạp hắt ra từ khung cửa sổ chắn song. Biết chắc bên trong có người, Sinh định lên tiếng gọi thì bỗng dưng chàng nghe có tiếng đàn văng vẳng bên hiên trái am đường, Sinh lấy làm lạ,càng tăng thêm tính hiếu kỳ, chàng quên bẳng cả việc lên tiếng, lần theo hướng phát ra tiếng đàn mà đi. Lại qua khỏi mấy rặng cổ tùng, cổ phong, một hòn giả sơn, khung cảnh hiện ra trước mắt càng làm Sinh kinh ngạc hơn, chàng ngơ ngẩn đứng nhìn, trước mặt chàng là một cái hồ lung linh bóng trăng, bên bờ hồ một hàng liễu xanh lướt thướt rì rào trong gió, phía dưới có một chiếc cầu gỗ nhỏ nghiêng nghiêng nối ra một mái tiểu đình nằm giữa hồ. Dưới ánh trăng vằng vặt, Sinh thấy rõ hai bóng nữ nhân, một ăn vận toàn màu trắng đang ngồi cạnh chiếc bàn đá thấp xoay mặt ra phía bên kia bờ hồ, một vận màu vàng nhạt đứng tựa bao lơn tiểu đình, xiêm áo thướt tha phất phới, tiếng đàn dìu dặt khoan thai phát ra từ đấy. Sinh đứng ngẩn ngơ một lúc rồi chàng sực tỉnh, vội đi lần đến cất tiếng hỏi thăm. Tiếng nói của chàng làm hai nữ nhân giật mình, họ quay lại nhìn chàng có vẻ sợ sệt, chàng vội vã trấn an:
- Xin nhị vị cô nương chớ kinh hãi, tại hạ là khách lỡ độ đường định hỏi thăm nhà chùa cho tạm trú qua đêm, không ngờ làm kinh động đến hai vị thật là mạo phạm xin hai vị thứ lỗi. Chẳng hay nhà chùa…

Chàng chưa nói dứt lời thì cô bé bới tóc hai nhánh mặc áo vàng nhanh nhẩu lên tiếng:
- Không sao, không sao, xin khách quan đừng e ngại, lão gia và tiểu thơ tôi rất hiếu khách, chùa lập ra là để giúp người lỡ độ như khách quan đó mà.
Ngưng một lúc, cô nói tiếp (Sinh đoán là hai người đã bàn bạc với nhau điều gì):
- Tiểu thơ mời khách quan quá bước đến đây để thăm hỏi cho tận tường trước khi khách quan tá túc qua đêm.
Sinh được lời vội vã bước lên cầu. Khi ấy bên trong tiểu đình cũng đã được khêu thêm mấy ngọn bạch lạp. Lên đến nơi Sinh càng kinh ngạc, chàng không ngờ nơi chốn thâm sơn cùng cốc này chàng lại được hội ngộ với mỹ nhân. Nữ nhân áo trắng tuổi độ chừng đôi mươi, dung mạo đoan chính, tuy trang điểm đơn sơ nhưng vẫn toát ra một vẻ diễm lệ thanh tú. Nữ nhân áo vàng vào khoảng đôi tám, dáng điệu xinh xắn nhanh nhẹn. Chàng nhẹ cúi đầu thi lễ rồi lên tiếng trước:

- Xin lỗi tại hạ đường đột làm kinh động đến cô nương, tại hạ họ Lưu người Nhã Nam, vì quê nhà có cơn biến loạn nên tha phương lưu lạc đến chốn này, mong cô nương có thể cho tại hạ được biết đây là đâu chăng? Chàng nói xong lùi lại một bước đứng chờ. Cô gái mặc áo trắng từ đầu hoàn toàn im lặng, giờ mới đứng lên khẽ gật đầu đáp lễ với chàng rồi từ tốn lên tiếng:

- Xin tiên sinh đừng bận tâm về chuyện đường đột, tiểu nữ hiểu được hoàn cảnh của tiên sinh. Xin mời tiên sinh hãy ngồi rồi tiểu nữ đây sẽ thưa chuyện.
Sinh bấy giờ mới thở phào nhẹ nhõm, chàng ngồi xuống chiếc ghế đá đối diện với thiếu nữ ngăn cách bởi chiếc thạch bàn mà bên trên là chiếc đàn thập lục và một đỉnh trầm đang tỏa hương ngào ngạt, có cả bút nghiên giấy mực. Sinh kín đáo quan sát chung quanh, chàng phải nhìn nhận rằng mái tiểu đình tuy trông có vẻ tiêu điều nhưng cách bài trí, hoa văn chạm trổ trên các rường cột của tiểu đình chứng tỏ chủ nhân của nó có tâm hồn phóng khoáng đầy tính chất nghệ thuật. Chưa nói gì nhưng Sinh đã tự nhủ quả là mình tam sinh hữu hạnh mới có cơ hội ngồi đây. Nhìn xa thêm chút nữa, chàng thấy lờ mờ nơi năm chiếc cột của tiểu đình là mấy dải lụa phất phơ, dường như trên có đôi ba hàng chữ nhưng chàng chưa thể nhận ra được là gì vì không đủ ánh sáng. Phóng tầm mắt xa hơn, khung cảnh bên ngoài mới thật là tịch mịch diễm ảo, mặt hồ lung linh rờn rợn ánh trăng, bóng liễu thướt tha phất phơ trong gió nhẹ, Sinh đắm chìm trong khung cảnh ấy, tưởng như đã quên bẳng cả không gian và thời gian, bất giác Sinh nhớ đến hoàn cảnh hiện tại của mình chàng không sao tránh khỏi buông ra một tiếng thở dài. Thiếu nữ áo trắng nãy giờ im lặng nhìn Sinh, nghe Sinh thở dài bèn lên tiếng hỏi:

- Dám hỏi tiên sinh có điều chi phật ý? Sinh vội vã đáp lời:

- Không, không, tại hạ nào dám có điều chi phật ý, lỡ độ đường như tại hạ được cô nương tiếp đãi là hân hạnh cho tại hạ lắm rồi, chỉ vì nghĩ đến thân phận nổi trôi của mình mà sinh lòng cảm thán đó thôi.

Nói rồi Sinh nhìn thẳng vào mặt thiếu nữ xem cô ta phản ứng như thế nào.
Qua ánh đèn bạch lạp lung linh, diện mạo của cô gái từ trắng trở nên hồng ra chiều e thẹn khi có nam nhân nhìn thẳng vào mình. Nhưng rồi chỉ vài giây sau cô lấy lại bình tỉnh từ tốn đáp lời Sinh.
- Xin tiên sinh chớ nản lòng. Là con người mấy ai sinh ra đã có thể tự chọn lựa được thân thế, chủng tộc, đất nước của mình hở tiên sinh. Tiểu nữ thiển nghĩ dù ở hoàn cảnh nào trong lòng tiên sinh vẫn có quê hương là đủ rồi, người chối bỏ quê hương, chối bỏ cội nguồn mới là đáng trách. Huống chi theo chỗ tiểu nữ hiểu được, chắc chắn tiên sinh không phải hạng người này.

Ði từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác, Sinh đầy lòng thắc mắc, không biết cô gái này gia thế ra sao mà lời lẽ của cô quả không phải là hạng nữ nhi thường tình. Dường như đoán biết được ý nghĩ của chàng, cô nhẹ nhàng nói tiếp:
- Tiểu nữ họ Tố, còn đây là nữ tỳ Tiểu Cúc, chốn này gọi là Liễu Tần hạt, tiên sinh đang ở trong trang viên nhà họ Tố, ngôi thảo am ngoài kia là do thúc phụ lập ra. Vì thúc phụ hay vân du mây ngàn hạc nội, hôm nay vắng nhà nên tiểu nữ đành phải thay mặt thúc phụ mà chiêu đãi tiên sinh. Tiểu nữ vốn quê mùa thô thiển, nếu có điều chi khiếm khuyết mong tiên sinh lượng thứ cho.

Ðối đáp qua lại dăm câu, Sinh được biết phụ thân Tố Nữ từng là tay khoa bảng, chán ghét quan trường hắc ám nên cáo quan về quê dạy học, nàng mồ côi mẹ từ tấm bé, được cha dạy dỗ và nuông chiều rất mực. Cha nàng cỡi hạc quy tiên đã được mấy năm, bỏ lại nàng nương náu cùng thúc phụ với trang viên vốn là sản nghiệp từ tổ phụ. Còn thúc phụ nàng có duyên với thiền môn, tuy công danh đỗ đạt nhưng không thích bị trói buộc hệ lụy thế gian mới lập một thảo am riêng trong khuôn viên Tố gia, làm bạn với lời kinh tiếng kệ, gió mát trăng thanh. Thúc phụ nàng lại ưa rày đây mai đó bỏ mặc khuôn viên ngày càng hư hỏng sa sút vì không người chăm sóc.
Tiểu Cúc từ lâu không biết bỏ đi đâu bây giờ trở lại với vài thức ăn trên khay. Cô thắp thêm mấy ngọn bạch lạp chung quanh, lại thêm mấy ngọn phong đăng nữa. Tố Nữ lên tiếng hỏi cô hầu gái:
- Tiểu Cúc, tiên sinh đây hưởng dụng thực phẩm xong sẽ vào hậu liêu ngơi nghỉ, sao em mang đến lắm đèn thế ? Tiểu Cúc ranh mảnh trả lời:
- Tiểu thơ, em thấy chẳng mấy khi tiểu thơ gặp được người tâm đầu ý hợp như tiên sinh đây để mà hàn huyên nên em mang nhiều đèn để thắp đến… sáng ấy mà.
Nói xong Tiểu Cúc thu dọn gọn gàng mọi thứ rồi lại chạy đi.

Lúc bấy giờ có thêm mấy ngọn đèn chung quanh, Sinh nhìn quanh các bức lụa treo ở cột đình, và chàng nhận ra đấy là những bài thơ làm theo lối cổ phong, màu mực và màu lụa hãy còn rất mới, chàng cầm đèn đứng lên đi đến gần để xem cho rõ. Tố Nữ cũng đứng lên theo chàng, thấy chàng chăm chú vào mấy bức lụa, cô vội lên tiếng:
- Tiên sinh xem xong xin đừng cười, chỉ là chút nghề mọn giải khuây giữa chốn thâm sơn cùng cốc , không dám múa rìu qua mắt thợ.
Sinh yên lặng không trả lời, chàng lẫm nhẫm đọc hết bức này sang bức khác, càng đọc Sinh càng kinh ngạc đến sững sờ. Chàng đọc xong đứng lặng giây lâu, thần sắc bi hoan lẫn lộn. Chàng đi lần ra khỏi mái tiểu đình đến đứng cạnh bao lơn trông ra mặt hồ bên ngoài. Lòng tràn đầy xúc cảm, Sinh nghĩ ngợi miên man. Một bậc nữ lưu tài sắc như cô gái họ Tố kia thật không dễ gì gặp được trên cõi đời ô trọc này, Sinh có mơ chăng? Chàng thử bấm vào tay mình vẫn thấy đau. Chàng đắm chìm trong xúc cảm cho đến khi tiếng nói nhỏ nhẹ của Tố Nữ vang bên tai mới làm chàng giật mình:
- Lưu tiên sinh, có phải tài hèn của tiểu nữ đã làm bẩn tri thức của tiên sinh chăng?
Chàng quay sang nhìn Tố Nữ giây lát rồi cất giọng, giọng nói chàng tràn đầy chân tình xúc động:
- Tố cô nương, tại hạ xin thực lòng nói không chút khách sáo rằng được đọc mấy bài thơ của cô nương đây tại hạ thật lấy làm khâm phục. Tại hạ từng đọc qua thi ca kim cổ cũng nhiều nhưng chưa bao giờ có cái cảm giác xúc động mãnh liệt như ngày hôm nay, một người với thi tài và tâm hồn như cô nương đây quả là hiếm có trên đời. Với diện mạo cô nương như thế này tại hạ mạo muội đoán rằng niên kỷ của cô nương không quá hai lăm,vậy thì với kinh nghiệm nào, với tri thức nào đã khiến cô nương thể hiện bài thơ

Nhất phiến phù vân lộng nguyệt,
Nhất trì yên vụ lung khinh.
Nhất trận phong dao lục liễu,
Hà tu tụng kỷ thiên kinh.


Một áng mây vờn mặt nguyệt,
Một hồ sương khói lung linh.
Một cơn gió đùa liễu biếc,
Cần chi tụng mấy biến kinh. *


Và bài thơ

Hạ tích tận kiên bối,
Ðông trước thiêm bào y.
Hà yếu đa đoan vấn,
Tiền thân bổn thị thùy.


Ðông về thêm áo khoác,
Hạ cứ cởi trần vai.
Cần chi mà thắc mắc,
Kiếp trước mình là ai *


này như một bậc hiền triết đã từng nghiên cứu các triết thuyết cổ kim…Và chàng phân tích cho Tố Nữ nghe những điều lý thú về các học thuyết vốn đã nằm sẵn trong sở tri của chàng từ lâu.

Tố Nữ e thẹn từ tốn đáp:
- Lưu tiên sinh, tiên sinh quá lời rồi. Tiểu nữ thật tình chưa được biết cái gì gọi là triết thuyết cổ kim như Lưu tiên sinh đã dạy. Tiểu nữ cả đời chưa bước ra khỏi rặng tre, khóm trúc trong chốn thâm u này, thế giới bên ngoài đối với tiểu nữ quả là xa lạ lắm.Gia phụ và thúc phụ chỉ dạy cho tiểu nữ dăm ba chữ thánh hiền, dạy cho cách đối nhân xử thế, đôi khi nhàn rỗi tiểu nữ hiếu kỳ ngâm nga đọc tụng một số thi phú kệ kinh của thúc phụ mà thôi. Tiểu nữ chẳng qua quanh năm gần gũi thiên nhiên, tâm hồn không xao động bởi thế sự, có lẽ vì vậy mà nảy sinh những ý tứ thâm trần như tiên sinh đã ngợi khen chăng?
Một lần nữa Sinh lấy làm kinh ngạc. Lời phân tích của Tố Nữ quả không sai. Chàng chưa kịp nói gì thì đã nghe Tố Nữ thêm:

- Lưu tiên sinh, tiểu nữ xin mạo muội gọi tiên sinh là Lưu huynh không biết có thất lễ chăng? Những lời phân tích của Lưu huynh cho thấy Lưu huynh thật đã thấu đáo tâm cảm của tiểu nữ hơn ai hết, cả thúc phụ của tiểu nữ cũng cho là trò chơi của trẻ con, mỗi lần tiểu nữ cho thúc phụ xem thi ca của tiểu nữ thì thúc phụ chỉ cười ha hả mà thôi.
Nhận thấy Tố Nữ cũng cởi mở phóng khoáng, Sinh lúc bấy giờ mới trở lại tâm trạng một nho sĩ hào khí ngất trời, chàng cười lớn:
- Ha ha ! Tố cô nương, cô mới là khách sáo. Tại hạ vốn khâm phục cô nương, được kết bằng hữu với cô nương là điều hân hạnh cho tại hạ, sao dám trách cô nương thất lễ chứ.
Lúc này mới thấy Tố Nữ hé miệng tủm tỉm cười, nàng nhẹ nhàng nói tiếp:
- Lưu huynh lại quá lời nữa rồi, tiểu nữ nào dám mong được kết bằng hữu với Lưu huynh. Huynh là người học rộng hiểu nhiều, thông kim bác cổ, so sánh với huynh, tiểu nữ chưa xứng đáng vào hàng đồ đệ của huynh nữa là. Lưu huynh thật quá khách sáo khiến tiểu nữ lấy làm tủi thẹn khi nghe huynh cứ xưng hô “tại hạ” với tiểu nữ.
Sinh bây giờ tâm trạng đã trở lại bình thường, giọng nói của chàng có pha chút xúc động:
- Thôi thì bây giờ tại hạ không khách sáo nữa, và cũng xin gọi cô nương là Tố muội cho thân mật nhé.
Tố Nữ mặt ửng hồng:
- Vâng, thưa huynh, muội đây xin nghe theo lời chỉ dạy của huynh.
Ðoạn nàng nghiêm trang nói tiếp:
- Lưu huynh, huynh đã từng phiêu bạc bốn phương, hẳn kinh nghiệm sống của Lưu huynh rất là phong phú, chẳng mấy khi có cơ hội được người như huynh lạc bước vào chốn thâm sơn cùng cốc này, vậy để cho qua thời giờ chờ đợi bình minh, có thể nào huynh chia sẻ những kinh nghiệm ấy với muội ít nhiều được chăng?
Sinh ngẫm nghĩ giây lâu rồi chàng cất giọng:
- Kinh nghiệm của huynh thật ra cũng tầm thường thôi, nếu muội không sợ chán tai thì huynh đây sẵn sàng.

Và rồi mấy ngọn phong đăng được khêu thêm, vài nén trầm được khơi thêm, trong khung cảnh gió mát trăng thanh, đất trời lồng lộng, trầm hương thoang thoảng, bóng liễu phất phơ, Sinh cùng Tố Nữ chuyện vãn không ngừng, càng đối đáp càng tương đắc. Tố Nữ càng thêm kính phục Sinh khi cô ngầm lưu ý thấy trong suốt thời gian chuyện vãn, Sinh không hề có một thái độ hay cử chỉ sỗ sàng, không hề có mảy may tà tâm gian ý nào. Phần Sinh, bản tính chàng vốn cũng là một con người lãng mạn và bây giờ đang ở trong một khung cảnh hết sức hữu tình, trước mặt là một tài hoa mỹ nữ nhưng chàng biết là chàng phải nên như thế nào, cái tính quân tử là một ưu điểm của chàng đồng thời cũng là một sự thiệt thòi đứng trên quan niệm khác của người đàn ông.

Ðêm càng về khuya, câu chuyện vần xoay từ lãnh vực này sang lãnh vực khác từ đạo lý đến nhân sinh …Sinh càng phải nhìn nhận rằng tuy Tố Nữ sống xa cách thế giới bên ngoài, không có nhiều cơ hội học hỏi, đi đây đi đó như chàng, nhưng nàng có một tài năng đặc biệt, một tâm linh trong sáng, một tri thức khác người, và nhất là sự dịu dàng mềm mỏng cần thiết của một người vợ hiền. Chàng nảy sinh một niềm ao ước nếu được cùng Tố Nữ nên nghĩa phu thê thì đời chàng quả là quá đầy đủ. Từ ao ước đó lòng chàng dâng lên một niềm thương mến. Sửa lại thế ngồi cho nghiêm chỉnh hơn, chàng nói với Tố Nữ bằng một giọng trang trọng:

- Tố muội, xin thứ lỗi cho huynh đường đột. Từ lâu huynh cố ý đi tìm một người như muội để kết mối tâm đồng. Ðêm nay trời đất rủi dung cho huynh được hội ngộ với muội thật là hân hạnh, không biết muội có nghĩ rằng đây là duyên phận của chúng ta chăng? Nếu muội đồng ý, huynh dù xa xôi vạn dặm cũng quyết tìm trăm phương ngàn cách để đưa muội về quê nhà ra mắt song thân.
Tố Nữ bấy giờ má ửng hồng nhưng mắt lại long lanh ngấn lệ, nàng rút khăn chậm nuớc mắt rồi từ tốn thưa:
- Lưu huynh, muội đây đối với huynh tấm lòng dường như đã gửi. Từ phút giây đầu tiên gặp huynh, muội đã có ý nghĩ thoáng qua lòng nếu được cùng huynh đi hết nẻo nhân gian thì muội đây dù có vất vả khổ sở cách nào muội vẫn cam lòng, cái bài thơ kia

Phù vân hồi đê lũng,
Ðằng hoa tử cựu phiên.
Tâm trung nhân vị ngộ,
Ðạm hương cánh vãn thiên .


Mây trôi về lũng thấp,
Hoa tím hàng phên xưa.
Thương ai lòng chưa gặp,
Ðành phai hương cuối mùa.
*

của muội có thể xé bỏ được rồi. Nhưng huynh ơi! Kiếp này đã không còn kịp nữa. Huynh hãy xem lại bốn câu thơ kế tiếp kia. Dường như linh tính muội cho biết định mệnh trớ trêu đã an bài nên nó vận vào thơ rồi, làm sao mà cởi bỏ cho ra. Sinh đưa mắt nhìn theo hướng Tố Nữ đã chỉ cho, chàng đọc lại bài thơ lần nữa

Ðạm vân hồng lũng mạt,
Tây lĩnh yểm huân âm.
Ta hồ ! Yên lũ bạc,
Do dao phiến hoài tâm.


Mây phai hồng cuối lũng,
Nắng úa vương đồi tây.
Chao ơi ! Làn khói mỏng!
Còn đong đưa tình hoài.
*

Và thần sắc chàng không nén nổi bi thương, Sinh nhìn Tố Nữ chờ đợi.
Tố Nữ yên lặng một lúc lâu, dường như chờ cơn xúc động lắng xuống mới từ từ kể lể khúc nôi. Chàng được biết thêm đây là tuần trăng cuối cùng mà Tố Nữ lưu lại chốn này. Mai kia nàng phải vâng theo di ngôn của phụ thân trước phút lâm chung gả vào nhà họ Túc mà từ lâu gia đình nàng vốn mang nặng thâm ân. Tương lai, khuôn viên này không chừng cũng sẽ phải thay đổi chủ nhân. Cho dù sau này Sinh có thể trở lại chốn này thì cũng không chắc gì sẽ gặp Tố Nữ được.

Lại yên lặng giây lâu,sau cùng Tố Nữ nhìn Sinh chăm chú đầy chân tình tha thiết, giọng nàng sùi sụt:
- Lưu huynh, duyên tương hội hôm nay, muội xin ghi nhớ đến cuối đời và sẽ mang theo làm đuốc soi đường cho muội đi tìm huynh trong kiếp lai sinh, nếu có duyên sẽ xin gặp lại. Còn bây giờ cho dù phụ thân đã mất, chẳng ai có thể ràng buộc, nhưng muội cũng không dám vì tình mà tự ý hủy bỏ hẹn ước của hai gia đình, mai này đời sống muội sẽ khép vào khuôn phép, muội không biết nhân duyên kiếp này rồi sẽ đi đến đâu nhưng muội sẽ cố gắng chu toàn bổn phận.
Ngừng lại giây lát, Tố Nữ ngước mặt nhìn chàng thiết tha nói tiếp:
- Ân tình của huynh dành cho muội, muội có thể vì huynh mà trao gửi đêm nay, nhưng ngày mai muội sẽ phải chọn cái chết để tạ lỗi với những người còn sống. Muội không thể ra đi theo huynh được. Muội không thể để vong linh phụ thân ở suối vàng phải hổ thẹn vì muội.

Dứt lời, Tố Nữ nhìn Sinh đắm đuối, hai má nàng đỏ bừng, đôi mắt long lanh càng tăng thêm nét quyến rũ. Sinh mê mẩn tâm thần, nhìn nàng như say như đắm, Sinh muốn ôm choàng lấy thân thể nàng, siết chặt nàng trong vòng tay, hôn nàng tới tấp vào môi vào má cho thỏa niềm khao khát, nhưng đồng thời chàng cảm thấy lòng đau như cắt, niềm vui chưa trọn đã phải đi đến một quyết định mà chọn lựa nào cũng thương tâm. Chàng trầm ngâm, Tố Nữ cũng trầm ngâm, thần sắc cả hai đều bi hoan lẫn lộn. Thời gian lúc bấy giờ như ngưng động lại. Không gian cô tịch, dường như chỉ nghe được nhịp đập cảm thông của đôi tim. Sinh không dám lay động, chàng vận dụng lý trí mãnh liệt, chỉ cần một cái với tay của chàng, Tố Nữ sẽ nằm gọn trong lòng chàng, tấm thân ngà ngọc kia sẽ thuộc về chàng…Nhưng rồi ngày mai sẽ ra sao? Chàng không muốn làm chủ tấm thân kia chỉ trong khoảnh khắc ngắn ngủi, chàng muốn được cùng nàng kết tóc se tơ, cùng dắt dìu nhau cho đến lúc răng long đầu bạc. Nhưng kiếp này đã không thể thực hiện được điều đó và chắc gì có kiếp sau. Mà dù có kiếp sau thì chàng phải chờ đợi bao lâu nữa. Sinh nhắm mắt lại, tập trung tư tưởng. Cuối cùng chàng mở mắt thở ra một hơi dài, đoạn chàng trân trọng cầm tay Tố Nữ, nghiêm nghị bảo nàng:
- Tố muội, huynh cám ơn muội đã hết lòng tin tưởng nơi huynh. Huynh không thể ích kỷ làm khổ muội. Phương pháp nào cũng đưa muội đến chỗ khổ tâm và huynh đây cũng không tránh khỏi thương tâm. Huynh trân trọng muội, huynh sẽ giữ cho muội nét tôn quý để mai này xuất giá. Phần huynh, huynh từ xưa không tin là có kiếp sau, nhưng nay vì muội, huynh tạm tin là có, nhưng chờ đợi như thế nào, được chăng là điều không thể biết. Hơn nữa, nhân sinh muôn mặt, luân hồi thiên biến vạn hóa, duyên nghiệp điệp trùng, kiếp sau dù có thì biết đâu mà nhận ra nhau?

Tố Nữ bây giờ thần sắc đã trở lại trạng thái bình thường tuy vẫn còn chút ít bi thương, nàng đáp lời Sinh bằng một giọng thiết tha rõ ràng chắc chắn:
- Lưu huynh, muội thật không nhìn lầm huynh, muội tin tưởng rằng chúng ta có duyên thì chắc chắn một sợi dây vô hình nào đó sẽ ràng buộc dẫn dắt chúng ta lại gần với nhau, dù chúng ta có muốn hay không thì vô tình vẫn phải bị cuốn hút vào nhau trong sự tương quan của vũ trụ này. Hơn nữa chúng ta còn một mối cảm thông qua thi ca, muội tin là mình sẽ nhận được nhau một cách dễ dàng. Xin hãy để cho muội kiếp này hoàn thành mọi trách nhiệm ân oán với người, kiếp sau sẽ tìm huynh, theo huynh, vì huynh lại sẽ giúp huynh thành toàn mọi sở nguyện trong đời của huynh cho dù phải trải qua nhọc nhằn gian khổ.

Sinh bấy giờ cũng đã vượt qua một cuộc phấn đấu dữ dội giữa lý trí và dục vọng, chàng bình tâm tỉnh trí ngẫm nghĩ lời nói của Tố Nữ, chàng thấy điều ấy không phải là vô lý, nhưng từ hiện tại đến một tương lai xa xôi vời vợi qua hết kiếp người đâu phải là chuyện một chiều một sớm. Ai sẽ là chứng nhân cho câu chuyện này. Sinh cảm thấy đã đến lúc nên trở về với thực tế, giã từ Tố Nữ, xem mọi chuyện xảy ra như một giấc chiêm bao đẹp đáng ghi nhớ trong đời, việc gì sau đó hãy để thời gian cuốn trôi vào quên lãng. Cùng trong lúc ấy Tiểu Cúc từ đâu xuất hiện, cô ta vừa đi vừ gọi rối rít:
- Tiểu thơ ơi, tiểu thơ à, đã sáng rồi, mau thu xếp về tư phòng đi thôi…

Tiếng gọi của Tiểu Cúc làm Sinh giật mình choàng tỉnh. Chàng ngơ ngác nhìn chung quanh. Té ra là chàng vẫn ngồi nơi phiến đá dưới gốc cổ tùng chứ chưa hề bước chân đi đâu. Mặt trời đã lặn, chỉ còn lại chút ánh sáng mờ mờ, quanh đó có tiếng đùa giỡn gọi nhau của trẻ con đang chơi dưới chân đồi. Sinh bần thần nghĩ ngợi, thì ra trong lúc ngồi trên phiến đá chàng thiu thiu ngủ nên có giấc chiêm bao này, nhưng mà lạ là chàng vẫn ngửi được mùi hương trầm phảng phất quanh đây. Hay đó chỉ là ảo giác của chàng thôi. Sinh đứng lên lững thững đi về, lòng miên man suy nghĩ về cảnh giới vừa qua. Có phải là mộng chăng. Chàng hoàn toàn mù mịt.

Việc kinh doanh của Sinh bắt đầu hình thành khiến chàng luôn bận rộn, Sinh chưa có dịp nào trở lại Cốc Tích Viên lần nữa. Chàng dường như đã quên bẳng đi chuyện mộng mị chiều nào. Chàng lại miệt mài hăng say lao mình vào công việc, đi sớm về tối.
Thật ra, lần trở về Phiêu Ly Trấn đầu tư vào nghiệp vụ kinh doanh này, Sinh bị ảnh hưởng phần nào bởi Tứ muội của chàng. Thấy gia huynh lẻ loi cô độc ở Thất Xích Châu, Tứ muội cứ một mực khuyên chàng trở lại Phiêu Ly sống để có đệ có huynh gần gũi. Sinh rời Mộc Ðịa Nhai thời gian cũng đã lâu nên khi trở lại mọi sinh hoạt đối với chàng hầu như đều mới mẻ. Tứ muội vốn quảng giao nên hay đưa chàng đi đây đó trong việc gây dựng quan hệ với những nhân vật có ảnh hưởng đến việc kinh doanh của chàng. Thỉnh thoảng Tứ muội ranh mảnh đưa chàng đến viếng một vài thiếu nữ, thiếu phụ ngầm ý mai mối cho chàng, Sinh biết được nhiệt tâm của em gái, không muốn em thất vọng nên cũng ừ ừ hử hử gặp gỡ cho qua chuyện rồi thôi. Huynh muội chàng tuổi tác chênh lệch nhau không nhiều, nhưng gia pháp nghiêm minh nên các em đối với chàng một mực kính nể mà cũng không thiếu tình thân ái đệ huynh. Một hôm nh
ằm lúc cuối tuần trăng, Tứ muội nửa đùa nửa thật bảo chàng:
- Lâu nay mối mai cho huynh nhiều phen mà chẳng đi đến đâu, lần này muội sẽ đưa ca đi gặp một người đặc biệt mà muội rắp tâm …để dành cho huynh từ lâu, từ khi huynh còn ở dưới Thất Xích Châu kia, hôm nay có cơ hội cho huynh gặp rồi đây.
Sinh phì cười cho nhiệt tình của Tứ muội, cô ta cứ nghĩ cái người nào đó chàng sẽ gặp giống như là viên kẹo, chiếc bánh, giấu biến đi rồi sẽ không có ai tìm thấy được. Chàng thân ái cốc nhẹ vào đầu em, nói đùa:
- Ừ thì kẹo bánh gì đây, để huynh thử xem có ngon không?
Sinh vốn đã quá quen thuộc với việc làm tào lao này của Tứ muội nên chàng cũng không buồn hỏi xem là sẽ đi đâu, không ngờ Tứ muội đưa chàng đến Ninh An tự, một ngôi chùa cách Mộc Ðịa Nhai vài dặm đường. Ðến nơi, lễ lạt xong xuôi, tìm không thấy người mình muốn gặp, huynh muội ra về. Sinh cho chẳng có gì quan trọng nhưng trông thấy nét mặt Tứ muội tiu nghỉu, chàng thương hại bảo em:
- Lần này không gặp thì lần khác vậy, có gì đâu mà muội phải nặng lòng quá thế?
Vốn biết tính gia huynh không thích lui tới những nơi đông người, đi một lần khó một lần nên khi nghe chàng nói thế, Tứ muội tươi ngay nét mặt hớn hở bảo chàng:
- Nhớ nhé, huynh hứa rồi đấy, tuần sau lại sẽ đến nhé.

Một tuần lễ trôi qua mau chóng, dù lòng không tha thiết vì chàng cho rằng sẽ chẳng đi đến đâu nhưng Sinh cũng muốn cho em được vui nên chàng đùa:
- Thôi thì chiều ý muội lần này nữa đấy nhé, rõ là việc …tào lao.

Thế rồi mọi việc xảy ra đúng theo sự sắp xếp của Tứ muội. Gặp gỡ, nói năm ba câu chuyện vô thưởng vô phạt rồi ai về nhà nấy. Tuy rằng nhan sắc của người phụ nữ đó cũng khá nhưng điều đó có ý nghĩa gì với Sinh đâu. Chàng đã từng gặp qua bao nhiêu nhan sắc cũng thuộc hạng khá; xuất sắc rồi, nhưng Mai ,Lan, Cúc,Trúc, Xuân, Hạ, Thu, Ðông…cũng đều như nhau thôi. Về nhà Sinh lại bận rộn với công việc, tâm tư của chàng chẳng còn chỗ nào trống cho hình ảnh của bất cứ người đàn bà con gái nào. Chàng đinh ninh là số mệnh của chàng đã như thế, mặc cho Tứ muội nhắc nhở hối thúc chàng phải nhanh tay kẻo mất đi cơ hội. Cô ta cứ năm ngày ba hôm là hỏi thăm chàng tình hình tiến triển đến đâu, mặc cho Tứ muội lải nhải bên tai, chàng vẫn lờ đi bởi chàng có liên hệ gì với ai đâu mà tiến với triển.
Năm tháng lại vùn vụt trôi qua, sắp sửa đã hết hè, sang thu, tình cờ trong một câu chuyện nhàn đàm với Tứ muội và một vài bằng hữu, Sinh nghe được một chi tiết mà chàng cho là lý thú, nhưng chàng cũng không khỏi nghi ngờ cái khả năng này. Lời đồn đại có bao giờ đáng tin cậyđâu. Nghe người phụ nữ tương ngộ với Sinh ở Ninh An tự hôm nào vốn có chút tiếng tăm với thi tài của nàng tại địa phương khiến lòng hiếu kỳ của Sinh lại nổi lên, chàng muốn tìm hiểu xem hư thực thế nào, Sinh bèn nhờ Tứ muội tìm cách đưa tin nhạn cho chàng. Không mong đợi gì hơn, Tứ muội vui vẻ giúp chàng.

Nhạn bay đi rồi bay về, Sinh chân thành cho biết thân thế, trình độ cùng sự nghiệp dở dang của chàng và chàng cũng ngỏ ý “Nước non luống những lắng tai Chung Kỳ” với đối phương. Khi cánh nhạn thứ ba đến với chàng thì Sinh không khỏi sững sờ kinh ngạc, cái cảm giác này giống như cái cảm giác hôm nào của chàng trong giấc mộng ở Cốc Tích viên chiều nọ. Sinh bàng hoàng đọc đi đọc lại hai bài thơ ngắn bằng cổ ngữ mà nàng gửi đến xin thỉnh giáo, từ bài nguyên tác đến bài dịch nghĩa.

Loại cổ ngữ này với nền văn minh kỹ thuật hiện đại dường như đã đi vào quên lãng. Người ta đua nhau học hỏi những ngôn ngữ mới mẻ hơn để có thể dễ dàng tìm kiếm cơ hội nâng cao đời sống vật chất tại xứ sở xem trọng kim tiền này. Ngoại trừ những người đang đeo đuổi việc dịch thuật kinh điển của nhà Phật, không mấy ai còn quan tâm đến thứ ngôn ngữ mang nặng tính chất văn hóa dân tộc Ðông phương của quê hương đất nước chàng. Thêm vào đó, tinh thần của hai bài thơ ngắn ấy không nằm trong phạm trù nhân sinh tình ái bình thường, nó rơi đúng vào cảm quan triết lý mênh mông bát ngát ở trong sở học của chàng.

Huyễn huyễn phong vân tán,
Du du tuế nguyệt thâu.
Bán sinh hành lữ đoản,
Hà xứ ngã chung khâu?


Ảo ảo thiên yên sắc,
Hư hư hải lãng âm.
Vô thường vô biên tác,
Hà xứ ngã như tâm?


Gió mây tan tác bên trời,
Xôn xao năm tháng ngậm ngùi xuân xanh.
Quê người nữa kiếp phù sinh,
Biết trăm năm nấm mộ mình nằm đâu?

Chập chờn khói mỏng trời cao,
Miên man dâu bể sóng xao đêm ngày.
Vô thường đến chẳng riêng ai,
Biết trăm năm cái tâm hoài ta đâu? *


Chàng đọc đi đọc lại nhiều lần, lần nào cũng đánh động nơi chàng một cảm xúc mạnh mẽ khó tả. Sinh giật mình chợt nhận ra mối liên hệ của tâm linh chàng với hai bài thơ này. Chàng biết là chàng phải làm gì bây giờ. Lần này đúng là phải nhanh tay lên mới được, chàng không thể để tiền kiếp lập lại đoạn cuối không đoạn kết ấy nữa. Hỡi ơi! Một trăm năm, hai trăm năm thật là không ngắn mà cũng không dài. Chàng nhớ man mác lời nói của Tố Nữ trong giấc mộng chiều nào mà rúng động cả tâm can.

Những ngày sau đó, Sinh cố gắng nhớ lại từng chi tiết nhỏ trong giấc mộng Cốc Tích Viên, rồi chàng đem ra phân tích, nghiền ngẫm, so sánh những tính chất, những khung cảnh,những sự việc xảy ra giữa mộng và thực, chàng suy nghĩ rất nhiều, rất sâu trong mấy tuần lễ liền để cuối cùng chàng đi đến kết luận rằng sự việc Cốc Tích Viên đối với chàng không phải là mộng mà là lạc vào tiền kiếp. Phải, chàng đã đi lạc vào tiền kiếp trong một khoảnh khắc mà môi trường chung quanh hội đủ thức duyên. Chàng trở về tiền kiếp bằng con người của thời gian , không gian hiện thực mà đối cảnh là thời gian và không gian của quá khứ xa xôi một vài trăm năm trước. Khi chàng thấy được hình ảnh ngôi chùa là chàng chỉ mới đi tới ranh giới giữa tiền kiếp và hiện tại cho nên chàng cảm thấy ngôi chùa mang kiến trúc cổ xưa. Bước vào cổng rào là lúc chàng bước qua ranh giới của tiền kiếp, càng đi sâu hơn qua khỏi mấy rặng cổ tùng cổ phong là chàng càng đi gần đến cái trọng điểm tiền kiếp ấy, cho đến khi chàng gặp được Tố nữ là lúc chàng thâm nhập vào chính con người chàng trong tiền kiếp. Cái thời gian và không gian này trên thực tế đã mất đi nhưng lưu ảnh của nó còn tồn tại đâu đó trong một thế giới nào khác của vũ trụ khiến chàng lại thấy được chàng ngày xưa, Tố Nữ ngày xưa mà chuyện tương hội một đêm ngắn ngủi ngày xưa là nhân duyên của ngày hôm nay.

* Nguyên tác hán thi & bản dịch: Hạt Cát


http://hatcat79.com/Vanhoc/Lacvaotienkiep.htm

 

Tin khác
Tin mới
Phong thủy - Nhân Điện ứng dụng
Ngôn ngữ
Language: loading...
Calendar
Liên kết
Sự kiện
Thống kê
Trực tuyến: 3
Hôm nay: 61
Hôm qua: 390
Tháng này: 20228
Tháng trước: 27113
Lượt truy cập: 874520
Quảng Cáo
  • Facebook
Designed by: WEB60S.COM

HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN
  • Điện thoại: 04- 6 2947292 - 097 6661313
  • E-mail: info@nangluongcuocsong.com.vn
  • Tư vấn khóa học giải đáp về Nhân Điện
  • Hỗ trợ các vấn đề trên website