TRUNG TÂM NHÂN ĐIỆN TÂY SƠN HÀ NỘI

Bài báo »Chuyện lạ bốn phương

Không ăn mà sống

KHÔNG ĂN MÀ SỐNG

Ông Nanda là một vị tu hành người Ấn Độ. Ông sinh năm 1893. Ngay từ khi còn nhỏ, ông đã quyết chí đi tu, ngày đêm ông chỉ tìm cách trốn nhà để lên núi Himalaya tầm sư học đạo.
Đến năm 1914, ông được nhận vào đồ đệ của cụ Sri_Yukteswar, cụ này chủ trương tu luyện theo pháp môn Kryla Yoga. Đến năm 1920, ông Nanda được Thày giao cho nhiệm vụ sang truyền bá pháp môn Kryla Yoga ở Bắc Mỹ (USA và Canada).
Ông Nanda đã ở Mỹ 15 năm, mở trường truyền đạo ở bang California  thuộc Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Ông đã tiếp nhận được rất nhiều học trò người Mỹ vào đạo. Trong số các học học trò của ông có ông Vrai (Wright) là được ông tín nhiệm nhất. Wright đã được cử làm thư ký riêng cho thầy và được luôn luôn ở bên cạnh Thầy như ngài Ananda ở cạnh Phật Thích Ca vậy.
Đến năm 1963, ông Nanda cùng hồi hướng về Ấn Độ, đem theo thư ký của mình là Wright và một số đồ đệ người Mỹ khác cùng theo ông về thăm quê Thầy.
Trước khi trở về Ấn Độ, ông Nanda cùng các học trò người Mỹ có ghé thăm một số nước châu Âu, đặc biệt là cuộc đi thăm bà Therese Neumann (Tê re Nơ Man).
Bà là một nữ tu sĩ hành theo đạo Gia tô giáo ở quận Bravie nước Đức. Cuộc đời của bà này cũng rất là kỳ dị.
Therese Neumann sinh năm 1898. Năm 20 tuổi bà gặp một tai nạn bất ngờ làm cho bà mù cả hai mắt và bị tê liệt. Từ đó bà chỉ niệm danh hiệu đức Thánh DELICIEUX. Đến năm 1923, bỗng nhiên hai mắt bà lại sáng ra và sau đó bà khỏi tê liệt.
Ngay sau khi lành bệnh, bà Therese Neumann quyết chí sống không ăn không uống gì nữa. Mỗi ngày bà chỉ ăn một mẩu bánh Thánh. Ông Nanda và ông Wright đã gặp bà Therese Neumann và được mục kích những trận niệm Thánh của bà được tổ chức vào những ngày thứ sáu (Friday) hàng háng.
Giáo sư NUKZE là một tiến sĩ Y khoa người Đức. Tiến sĩ hàng ngày sống bên cạnh là bà Therese Neumann có kể cho Nanda nghe rằng trong những cuộc hành trình mà tiến sĩ cùng nhiều người bạn đồng nghiệp của ông với bà Therese Neumann tiến hành trong lãnh thổ nước Đức, thì tiến sĩ và cộng sự của ông mỗi ngày phải ăn ba bữa đều, duy có bà bà Therese Neumann không hề ăn bữa qua một thứ gì, thế mà da dẻ của bà lúc nào cũng hồng hào và mịn màng như thiếu nữ. Ông Nanda rất lấy làm lạ về việc tại sao bà Therese Neumann không ăn mà sống. Ông có hỏi bà tại sao mỗi ngày bà chỉ ăn một miếng bánh mỏng như đồng xu mà vẫn sống được khỏe mạnh trong 12 năm nay, thì được bà Therese Neumann trả lời một cách rất giản dị:
-    Thưa ông, tôi sống bằng hào quang của Đức Chúa (Fevis de la lumiere cuc Dieu)
Sự việc bà Therese Neumann này nhịn ăn đã được chính quyền nhà thờ cho phép đưa ra kiểm nghiệm bằng một phương pháp khoa học rất nghiêm túc. Kết quả kiểm nghiệm chứng minh rằng đây là một sự thực hoàn toàn, không có gì đáng nghi ngờ nữa.
Lại một lần khác, một bác sĩ Đức chủ nhiệm một tờ báo thuộc dòng dạo Tin lành nghi ngờ rằng có lẽ việc này là sự man trá của đạo Gia tô. Ông bèn cất công đến chỗ bà Therese Neumann ở để phát giác việc “man trá” ấy. Nhưng sau khi ông được thấy tận mắt, nghe thấy tận tai, ông ta buộc lòng phải công nhận sự việc như trên là có thật. Ông vội về viết ngay bài phóng sự và đăng trên tờ báo của mình tường thuật rõ ràng về  bà Thánh Neumann với cả một tấm lòng kính ngưỡng.
Khi về tới Ấn Độ, ông Nanda cùng thư ký riêng là Wright đi chu du khắp liên bang Ấn Độ.
Đi đến đâu Wright cũng chú ý ghi chép những sự việc mắt thấy tai nghe về sứ sở thiêng liêng này để viết thành sách.
Một hôm hai thầy trò đi thăm một nữ tu sĩ (chép trong nhật ký của Wright) nhật ký như sau:
“Cách đây hơn 15 năm, thầy tôi là Nanda khi chưa sang Mỹ truyền đạo thì ông đã được người sinh viên Ấn Độ tên là Nanday kể cho thầy tôi nghe một câu chuyện như sau:
Ở tỉnh Tuhapur thuộc bang Bengala miền Bắc Ấn Độ có một vị tu sĩ suốt đời không ăn uống gì bà ấy tên là GiriBala. Anh sinh viên Nanday vốn cùng quê với bà hơn nữa lại là người hàng xóm nên anh biết chuyện này rất rõ ràng. Anh ta đã từng theo dõi hành vi của bà nhưng không bao giờ anh bắt gặp bà ăn một thứ gì cả. Anh rất lấy làm lạ nên đem câu chuyện trên trình bày với vị tiểu vương sở tại, để yêu cầu nhà vua tìm cách kiểm soát thật nghiêm mật để xem thực hư thế nào.
Nhà vua được tin cũng cho là việc hết sức kỳ dị bèn mời bà Bala vào cung để tiện viếc kiểm soát. Bà Bala vui vẻ nhận lời vào cung nhà vua. Lần đầu tiên bà được nhà vua cho vào một gian vòng cẩn mật, không hề được bước chân ra ngoài và không hề được ăn uống một thứ gì.
Lần thứ hai bà lại được nhà vua mời đến ở 25 ngày nữa và lần thứ ba là 15 ngày.
Sau ba lần thử thách như thế, nhà vua cho mời anh sinh viên Nanday đến để khẳng định với anh rằng:
“Việc bà Bala không ăn là hoàn toàn đúng sự thực không còn nghi ngờ gì nữa, Trẫm chứng nhận điều đó…”
Trên đây là câu chuyện anh sinh viên Nanday đã kể cho Nanda nghe cách đây 15 năm trước khi thầy tôi sang Mỹ truyền đạo. Trong  thời gian sống ở Mỹ Thầy Nanda của tôi luôn luôn nhớ lại câu chuyện về bà Bala và rất lo lắng rằng không biết khi ông về nước bà Bala có còn sống để cho ông có dịp gặp không?
Trên đường đi Wright tôi được nghe thầy kể chuyện ấy thì càng lấy làm sửng sốt, lạ hơn cả trường hợp gặp bà Therese Neumann vì bà này mới có nhịn ăn có 13 năm hơn nữa còn ăn bánh thánh chứ còn bà Bala đã nhịn ăn hơn 50 năm rồi… Vì thế cả hai thầy trò tôi đều rất nóng lòng được gặp ngay bà nữ tu sĩ kỳ dị ấy để được biết tin tức bà Bala còn sống hay chết và ở đâu.
Điều trước tên thầy Nanda tìm đến nhà ông em trai ruột của bà Bala là Lambada, hiện đang làm luật sư tỉnh Purulla và may mắn ông gặp luật sư tại nhà riêng. Luật sư cho chúng tôi biết là chị ông vẫn còn sống và rất khỏe mạnh tuy tuổi đã gần 70. Lambada nói: “Hiện nay chị tôi ở Biur, cách đây khá xa đấy. Nếu các ông đến đó chị tôi rất vui mừng tiếp đón các ông.”
Chúng tôi hỏi Lambada:
-    “Xin phép Ngài cho chúng tôi rõ, vì người ta đồn rằng bà Bala không ăn uống gì mà vẫn sống khỏe, điều đó có đúng không?”
-    “Ồ, thưa các Ngài, tôi xin đảm nhận sự việc ấy hoàn toàn có thực, Lambada đáp lại với vả một sự thành thật hiện ra trong khóe mắt ông”
-    “Thưa các vị đã hơn 50 năm nay, chị tôi không hề ăn uống”. Và thưa các vị nếu hành tinh của chúng ta có tan vỡ ra làm muôn mảnh đi chăng nữa, thì điều này không làm tôi sửng sốt bằng tôi bắt gặp bà chị tôi ăn”.
Cả hai chúng tôi đều phá lên cười, vì hai sự kiện ấy đều là những sự việc hầu như không bao giờ có thể xảy ra được. Ôi! Thật là những kỳ công.
Lambada nói tiếp:
-    “Chị tôi không tu ẩn dật như các nhà tu khác, mà lúc nào bà cũng chung sống với những người thân yêu trong gia đình. Mọi người đã quen cách sống của chị tôi và chắc chắn họ sẽ ngạc nhiên nếu thấy chị tôi ăn uống một thứ gì. Cũng như các phụ nữ góa chồng khác ở Ấn Độ chị tôi không giao du với ai. Tuy nhiên gần xa khắp vùng này ai ai cũng biết chị tôi là một người phi thường.
-    Sự thành thật của Lambada không còn nghi ngờ gì nữa. Chúng tôi cảm tạ Lambada rồi đi Biur là nơi bà Bala ở. Giữa cuộc hành trình chúng tôi dừng lại ăn uống vì chuyến đi này rất vất vả mệt nhọc. Trên lộ trình Wright nói chuyện với Nanda, nếu quả thật bà Bala là một vị Thánh thì con sẽ viết  một bài tường thuật về cuộc đời bà để cho nhân loại nói chung và nhân dân Ấn Độ và Mỹ nói riêng được đọc và biết đến bà. Một nhà tu sĩ đắc đạo như bà Bala mà không ai biết đến thì là cả một sự thiệt thòi lớn cho nhân loại. Thầy trò chúng ta phải cố gắng đến nơi trước khi trời tối, vì còn muốn chụp vài tấm ảnh về bà.
Wright cười và nói tiếp:
-    Những người Âu tây vốn hay đa nghi. Không có những chứng cứ cụt thể thì không thể thuyết phục họ tin được.
Nanda khen lời của Wright là phải. Hai người tiếp tục lên xe đi.
Đường đi mỗi lúc một khó khăn vì chỗ nào cũng có ổ gà và vũng bùn lầy lội. Thỉnh thoảng hai người lại phải xuống xe ô tô để đẩy. Có những chỗ bánh xe ngập sâu xuống bùn, họ phải nhờ những người nông dân bản xứ đem xẻng và xà beng kích xe lên, xe mới đi được. Càng gần tới Biur đường xá lại càng khó đi hơn. Trời lại gần tối, màn đêm từ từ buông xuống nhá nhem, nhưng cả hai người lòng đầy quyết tâm, giàu ý chí khắc phục mọi khó khăn, chứ nhất định không chịu bỏ lỡ cơ hội hiếm có này.
Đi đâu họ cũng được dân làng đổ xô ra xem, xúm xít quanh xe ô tô mà trố những cặp mắt kinh ngạc ra nhìn hai người khách xa lạ ấy. Cuối cùng thì Nanda và Wright đã tới được khu nhà mà bà Bala trú ngụ.
Họ đã từ giã một dẫy nhà bằng đất và trước mắt họ hiện ra một nhà gạch hai tầng. Một người phụ nữ từ từ trong ngôi nhà ấy bước ra. Đó là bà Bala mà họ hằng mong ước.
Trong bóng tối, chiếc khăn quàng đầu hiện ra đôi mắt bà Bala long lanh như hai hòn than rực cháy. Nét mắt dịu hiền và đây nhân hậu của bà biểu lộ một trình độ giác ngộ cao siêu mà khi thoạt nhìn, chúng tôi có cảm giác là bà đã hoàn toàn thoát ly mọi thứ danh lợi của thế gian này.
Bà Bala khép nép đi lại gần phía chúng tôi không nói năng nửa lời, biểu lệ thiện cảm vui vẻ để cho ông Wright chụp ảnh. Ông Wright tranh thủ thời gian còn sáng chụp được nhiều ảnh về bà.
Thế là ông đã ghi lại cho hậu thế những hình ảnh về một người độc nhất trên thế gian này, đã thực hiện được một kỳ công là “không ăn trong 50 năm mà vẫn sống khoẻ mạnh”. Với kỳ công này bà Bala còn vượt xa bà Therese Neumana mới chỉ nhịn ăn 13 năm. Nhật ký của Wright còn viết tiếp: “Như người mẹ hiền, bà Bala đứng mặt chúng tôi, toàn thân phủ kín trong tấm lụa vàng chỉ để hở khuôn mặt hiền hậu và đôi mắt long lanh sáng ngời. Từ cái nụ cười ngây thơ, từ một khuôn mặt dịu hiền với cái mũi nhỏ nhắn xinh xinh, cũng từ đôi mắt long lanh rực sáng của bà thoát ra một vẻ trang trọng và khinh an bao phủ người bà như một vầng hào quang.”
Ông Nanda nói:
-    Thưa mẹ, từ khi những ngày ấy, con đã vượt qua các đại dương để sang các nước ngoài, nhưng không có lúc nào là con không muốn hy vọng một ngày kia trở về được gặp mẹ.  Con thấy được cuộc sống thần kỳ và cao cả của mẹ cần được phát hiện cho toàn nhân loại biết, vì đã từ lâu nhân loại quên mất món ăn tinh thần.
Nghe Nanda nói, bà Bala ngước mắt lên một lát, mỉm cười đầy ý nghĩa và khiêm tốn đáp lại rằng:
-     Điều đó chắc là cha biết hơn con.
Nanda rất lấy làm sung sướng vì câu nói của ông không làm bà phật ý. Ai cũng biết rằng những bậc tu sĩ đắc đạo thường không thích người ta tuyên truyền về mình. Những bậc đó rất chăm lo giữ gìn bí mật về những thành quả tu hành của mình. Chỉ đến khi nào có một tiếng nói trong thâm tâm cho phép nói ra, lúc ấy các người mới chịu xuất đầu lộ diện để chỉ giáo cho những người tìm đạo.
Nanda lại hỏi tiếp:
-    Thưa mẹ, xin mẹ lượng thứ cho con và cho phép con được hỏi mẹ một vài điều. Những điều nào mẹ không muốn trả lời thì mẹ cứ im lặng. Con sẽ rất thông cảm với sự im lặng đó.
Bà Bala giơ tay lên tỏ vẻ rất niềm nở đáp ra:
-     Con rất sung sướng được làm thoả mãn những điều mà cha muốn biết, dù con chỉ là một người rất tầm thường thưa cha.
-     Không. Mẹ không tầm thường đâu mẹ ạ. Mẹ đã là một bậc cao cả. Con chỉ thích nấu nướng “những món ăn của mẹ cho người khác ăn”
Ông Nanda suy nghĩ thêm: “thật là một công việc kỳ dị của một vị Thánh không ăn gì”.
-     “Thưa mẹ, cho phép con được hỏi: “Có thực mẹ không bao giờ ăn phải không? Con muốn được nghe câu trả lời từ chính nơi miệng mẹ.
-     Thưa cha, điều đó hoàn toàn là có thực
Sau một lát yên lặng, bà Bala làm một chút tính nhẩm trong óc, rồi nói tiếp:
-    Thưa cha, từ năm con mới 12 tuổi 4 tháng cho đến nay, con đã 68 tuổi rồi, nghĩa là từ hơn 50 năm nay con không ăn một tí gì mà không uống một hụm nước nào nữa.
-     Có lúc nào mẹ thèm ăn uống không? Thưa mẹ.
-     Nếu thèm thì con đã ăn. Nào có ai ngăn cấm con đâu!
 Bằng một giọng khiêm tốn nhưng quả quyết, bà Bala nêu lên cho thế giới biết một lý quen thuộc đối với bà:
-    KHÔNG ĂN MÀ SỐNG (Life no eating)
Và trong khi đó thì toàn thể loài người không ai bỏ được ba bữa một ngày và nạn đói đe doạ ở các nước chậm tiến trong thế kỳ 20.
Nanda còn nói tiếp:
-    Thưa mẹ, theo con thì mẹ có ăn một thứ gì đấy chứ. Thức ăn của mẹ là nguồn NĂNG LƯỢNG mà mẹ lấy ra từ không khí và ánh sáng của vũ trụ.
-    Thế là cha đã biết đấy chứ!
Bà gật đầu tỏ ý đồng tình với kiến giải của Nan da và không một chút gì tỏ ra kiêu hãnh.
Nanda lại nói tiếp:
-     Xin mẹ kể lại cuộc đời của mẹ cho chúng con nghe. Đó là một điều bổ ích lớn, không những đối với đất nước Ấn Độ mà còn đối với cả các bạn trai gái của mẹ ở các nước phương Tây và trên khắp hành tinh.
Bỏ thái độ dè dặt hàng ngày, bà Bala đáp lại:
-    Con xin chiều theo ý muốn của Cha.
Rồi bà Bala kể lại cuộc đời của mình như sau:
-     Con sinh ra ở một tỉnh đầy rừng rú của xứ Ấn Độ này. Thời kỳ thơ ấu của con không có gì đặc biệt, duy có điều là con là một đứa trẻ rất thèm ăn. Con còn nhỏ, gia đình đã gả chồng. Trước khi về nhà chồng, mẹ con khuyên nhủ con rằng:
-    Mày phải chừa nết thèm ăn đi, kẻo mai kia về nhà chồng, gia đình nhà chồng thấy mày ăn suốt ngày “ăn như mỏ khoét” thì người ta sẽ chê cười lắm đấy!
-    Lời tiên tri của mẹ con quả nhiên biến thành hiện thực. Năm 12 tuổi, con đã về nhà chồng. Mẹ chồng con ngày đêm xỉ vả con về cái tật thèm ăn. Cũng do những lời xỉ vả không sao chịu nổi của mẹ chồng, mà bỗng một hôm con tỉnh ngộ.
-    Một buổi sáng hôm ấy, mẹ chồng con riếc móc con thậm tệ nhất. Con không sao chịu nổi nữa… Thế rồi con nói với mẹ chồng rằng:
-     Con thề từ nay trở đi, còn sống ngày nào, con nhất định không đụng đến một thứ đồ ăn nào nữa.
Mẹ chồng con mỉa mai:
-     Tật thèm ăn còn chưa bỏ được, đã nói gì đến chuyện nhịn ăn!
-    Con chẳng biết nói làm sao được nữa. Nhưng ý chí của con đã quyết, con liều rút lui vào một góc nhà vắng vẻ cầu nguyện đức Thượng Đế. Con khấn rằng:
-    Lạy Ngài, xin Ngài hãy rủ lòng thương cho con được gặp một vị đạo sư, chỉ dạy cho con phép sống bằng ánh sáng của Ngài, chứ không sống bằng thứ thức ăn thường tình của thế gian…
-    Khấn xong, người con tê mê như vào thiền định. Con cảm thấy như có một bàn tay vô hình dẫn con ra bờ sông Hằng (Gange).
Nửa đường đi, con gặp một vị đạo sư quen thuộc, cũng trong họ hàng nhà chồng con… Với một giọng thành khẩn con đã nói với vị sư đó rằng:
-     Thưa cha, xin cha dạy bảo con phép “không ăn mà sống”. Vị sư nhìn con, ngạc nhiên về lời thỉnh cầu lạ lùng ấy và Ngài không nói gì. Lát sau Ngài mới nói:
-    Tối hôm nay con đến đền, để cha sẽ làm một khoá lễ đặc biệt cho con.
-    Câu trả lời của vị sư không thoả mãn lòng mong muốn của con, nên con lại tiếp tục ra đi, đến sông Hằng để tắm… Lúc lên bờ, quần áo con ướt đẫm. Con đã định ra về, thì bỗng có một vị đạo sư Bồ Tát mà con hằng cầu nguyện hiện ra trước mắt con trong ánh hào quang sáng rực. Bồ Tát nói:
-     Con ơi! Ta là người Thầy mà Thượng Đế phái xuống theo lời cầu nguyện của con. Ngay từ hôm nay con chỉ sống bằng chất liệu của ÁNH SÁNG. Tất cả các tế bào trong thân thể con sẽ được hút chất dinh dưỡng trong PHÁP GIỚI VÔ TẬN…
Kể đến đây, bà Bala im lặng, ông Nanda lấy bút chì và quyển sổ tay của ông Wright ghi tóm tắt câu chuyện ấy bằng tiếng anh, câu chuyện thầy kỳ mà Bala vừa kể.
Sau một lát, bà Bala lại kể tiếp tục, nhưng lần này thì giọng bà rất khẽ:
-     Quãng sông lúc ấy tuy vắng vẻ, nhưng vị đạo sư Bồ Tát kia cũng đã toả ra một bầu sáng bao la bao phủ quanh con để cho không ai được thấy. Thế rồi người truyền lại cho con phép tu KRIYA, đó là một pháp tu có tác dụng làm cho cơ thể con người không cần ăn những thức ăn thô bỉ mà vẫn sống được. (Pháp KRIYA gồm một bài thần chú và một vài động tác hô hấp khó nhọc hơn là cách thở thông thường. chẳng cần thuốc men gì, cũng chẳng có huyễn thuật gì cả. Chỉ có KRIYA mà đạt kết quả ấy vậy).
Theo tác phong của những nhà báo Mỹ, ông Nanda hỏi thăm bà Bala một số điểm chi tiết có tính cách hấp dẫn mọi người. Lần lượt bà Bala kể thêm về những điểm chi tiết đó như sau:
-     Con không có con cái. Con goá chồng từ lâu. Con ngủ rất ít. Đối với con thì ngủ với thức không khác gì nhau. Đến đêm thì con ngồi quán tưởng. Ngày thì con làm các công việc trong nhà, thời tiết thay đổi không hề ảnh hưởng đến sức khỏe của con. Suốt đời con không bao giờ ăn. Nếu không may mà con bị thương thì con cũng không thấy đau đớn. Con không đi đại tiện, tiểu tiện bao giờ, con điều hoà kiểm soát được hơi thở và nhịp đập trái tim con. Khi con tham thiền nhập định, vị đạo sư của con cùng các vì Bồ Tát (Bodhisattawa) thường hiện ra trong lúc con thiền định (Dhyana).
Ông Nanda lại hỏi tiếp:
-     Thưa mẹ, tại sao mẹ không dạy cho người khác phép “không ăn mà sống” ấy?
Ông Nanda hỏi thế, vì ông nghĩ đến hàng triệu người trên trái đất hiện đang bị thiếu ăn trầm trọng, bà Bala trả lời:
-    Con không được phép làm việc ấy, vì Thầy cấm ngặt không cho Pháp lộ bí mật. Thầy con không muốn làm trái ý định của Tạo hoá. Nếu con dạy người ta phép sống không cần ăn thì những hành nghiệp của người ta sẽ coi con là kẻ thù, là kẻ tử thù của họ. Ví dụ như:
-    Nạn đói khát, sự thống khổ và bệnh tật là những chiếc roi vọt của nghiệp báo (Krama), nó quất vào con người và thúc giục con người phải đi tìm cái ý nghĩa chân chính của cuộc sống.
Ông Nanda lại hỏi:
-     Thưa mẹ, một mình mẹ biết cách “Không ăn mà sống” phỏng có ích lợi gì?
-     Điều đó để chứng tỏ rằng: Con người là tinh thần chứ không phải chỉ có cái thân tứ đại do vật chất tạo ra: (Tứ đại là: đại, thuỷ, hoả, phong)….
và cũng để chứng minh con đường tu của người ta là tiến tới chỗ sinh sống bằng ánh sáng của Thượng Đế.
(Chú thích: Thượng Đế ở đây phải chăng là Pháp giới tính theo chân lý của Phật đà, chứ không phải là “TRỜI” theo chủ nghĩa duy tâm), chứ không phải sinh sống bằng những thứ thức ăn thô bỉ của thế gian.
Nói xong, bà Bala lại nhập thiền định. Mắt bà quay nhìn vào trong nội tâm (hồi quang phản chiếu), và đôi mắt ấy vừa mới lúc nào cũng lóng lánh, sáng ngời, bây giờ lại trở thành như mắt hết tinh thần. Bà lại sắp sửa nhập định để đi vào cõi HƯ VÔ tịch mặc chân không, trong đó các câu hỏi đều là lý luận vô ích, và toàn thể chỉ là sự sung sướng tột bực.
Lúc bà xuất định, ông Nanda lại nói:
-     Mẹ cho con một mảnh áo choàng của mẹ để làm kỷ niệm, bà Bala đi vào nhà trong, chẳng bao lâu bà mang ra một tấm lụa, kính cẩn quỳ xuống đưa cho ông Nanda.
Nanda đỡ lấy và kính cẩn nói:
-    Lạy mẹ, xin mẹ cho phép con được sờ lên đôi chân linh thiêng của mẹ.
                                       
                                         *
                                   *           *                      

         Nguyên văn bằng tiếng Anh
          Trích dịch trong cuốn: AUTO BIOGRAPHIE  D’UN YOGI. Tác giả là ông:
         YOGA NANDA & WRIGHT.
Trên đây là bản dịch qua tiếng Pháp trích trong của AUTOBIOGRAPHIE (dịch từ tiếng Anh).
NGÔ XUÂN THIỀU (hiệu Thanh Quang cư sĩ) sưu tầm.



 

Tin khác
Home

Bản Quyền

Nội dung của website này được bảo vệ bởi Luật bản quyền. Website được đăng ký tại Cục Sở Hữu Trí Tuệ Việt Nam và được bảo vệ bởi Luật Pháp.Cấm mọi hình thức sao lưu phát tán , copy dữ liệu trên website mà chưa được sự đồng ý của chúng tôi.

Bài báo

Bài báo nghiên cứu , thảo luận và các vấn đề liên quan

Thư Viện

Thư viện chứa các video, audio, sách về Nhân Điện

Liên Hệ

TRUNG TÂM NHÂN ĐIỆN TÂY SƠN.