TRUNG TÂM NHÂN ĐIỆN TÂY SƠN HÀ NỘI

Nghiên cứu »Nghiên cứu tổng hợp

Hiệu ứng sinh học của con người

Bằng phương pháp hình học nhãn khoa và phép logic khoa học, Ernst Muldashev đã đưa ra giả thuyết con ngưới xuất hiện nhờ sự cô đặc của các dòng sóng mang thông tin, có năng lượng tâm linh. Và từ nhiều triệu năm trước, trên trái đất đã từng tồn tại bốn nền văn minh trước khi nền văn minh thứ năm của chúng ta phát nguyên từ Tibet (Tây Tạng) 18.000 năm về trước rồi theo bốn tuyến di cư tỏa ra khắp thế giới. Từ những đôi mắt được vẽ trên các đền đài Tây Tạng và Nepal, nhờ công nghệ thông tin, ông và các cộng sự dựng lại được hình ảnh của người có cặp mắt đó - một con người khác thường so với chủng tộc người của nền văn minh chúng ta, những người Limuri khổng lồ ép xác, có năng lượng tâm linh vô tận - mà những nhà phụng sự tôn giáo ở Tây Tạng và Nepal, Ấn Độ Kính cẩn gọi là “Ngài”.

 

      Qua cuộc thám hiểm ở Hymalaya, Ấn Độ, Nepal, tiếp xúc với các nhà hoạt động tôn giáo phương Đông - những con người “đặc biệt” được chăm sóc những người ép xác trong dãy Hymalaya qua những cuộc đàm thoại với những người nắm được nhiều bí mật của các hang động và, nghiên cứu các tài liệu văn học và sách kinh của các tôn giáo, tác giả đưa ra giả thuyết về quỹ gen nhân loại tại nhiều điểm trên thế giới do nền văn minh Lemuri vô cùng phát triển từ xa xưa (bị huỷ diệt phần lớn do sự đụng độ của một hành tinh khác vào trái đất làm lệch trục trái đất và gây nên đại hồng thuỷ) lập nên và được người của nền văn minh Atlant (bị huỷ diệt đa phần cách đây 850.000 năm do sao chổi rơi xuống nhấn chìm đại lục Atlantic), rồi thêm những người đầu tiên của nền văn minh thứ năm chúng ta bổ sung vào. Theo mức độ linh hồn trong sáng, cao thượng, những người ép xác có thể sống nhiều triều đến nhiều nghìn năm dưới dạng bất động như đá. Quỹ gen nhân loại này được Thế giới kia và đất nước Sambala ngầm dưới mặt đất của những người Limuri chuyển xuống sống trong lòng trái đất, bảo vệ bằng năng lượng tâm linh và bất khả xâm phạm, chỉ những người được lựa chọn mới có thể tiếp xúc.

      Quỹ gen nhân loại là sự đảm bảo cho sự tồn tại của nhân loại, bởi lẽ những người ép xác dưới các hang động là những nhân vật ưu tú nhất với tâm hồn trong sáng nhất, biết đồng cảm và yêu thương được sự chỉ bảo của thế giới kia, vào thời điểm cần thiết của nhân loại (cần truyền bá lối sống vì cái thiện, chống cái ác, dạy tri thức cho con người nhằm điều chỉnh, hướng dẫn và thúc đẩy sự tiến bộ) đã hồi sinh và xuất hiện như các đấng Phật, Tiên tri (Chúa Giêxu, Đức Mahomed, Isaac…) hé mở phần nào tri thức của không gian thông tin vũ trụ; hay khi trên trái đất xảy ra thảm hoạ toàn cầu, mất đi nền văn minh, thì những người ép xác là nguồn để phục sinh nhân loại.

      Tác giả đã đưa ra giả thuyết lý giải sự tồn tại của các Kinh tự tháp Ai Cập, Nam Mỹ, cánh đồng đá ở nước Anh… là sản phẩm của những nền văn minh trước đây cao hơn nền văn minh của chúng ta; lý giải sự thống nhất của những nguyên lý cơ bản trong các tôn giáo rất khac, sự đồng nhất trong tư duy của các tộc người rất khác nhau trên thế giới - đó là tiếng mạch ngầm của Thế giới kia, của Trí tuệ Tối thượng.

      Tác giả chứng minh các khái niệm cái Thiện, cái Ác là trường tháo ra, xoá tri thức, nhưng cái Thiện bao giờ cũng thắng cái Ác nhờ Tình yêu - trường xoắn vào tăng cấp, tăng năng lượng tâm linh. Tất nhiên tác giả không khẳng định các luận cứ của mình, ông chỉ đưa ra những chứng cứ, trích dẫn văn học và kinh thánh, đối chiếu, so sánh các quan niệm và dành cho độc giả quyết định tính đúng hay sai của chúng.

      Có lẽ điều quan trọng nhất từ những nghiên cứu này là tác giả đã giương cao ngọn cờ nhân ái, kêu gọi con người hãy làm việc để tích luỹ tri thức, sống yêu thương, đồng cảm lẫn nhau, trừng phạt tội ác, quên mình cho lý tưởng nhân bản. Và chỉ khi nào trên thế giới này cái thiện toàn thắng đối với cái ác thì nhân loại mới có cơ may được Thế giới kia cho phép tiếp xúc với Trí tuệ Tối thượng, và khoa học và công nghệ của nhân loại mới có khả năng đạt tới đỉnh cao như nền văn minh Limuri.

Từ thế kỷ XIX khi người Anh xâm chiếm Ấn Độ, các đại diện của nền văn minh phương Tây đã được tiếp xúc với một nền văn minh đầy huyền ảo và kỳ bí của châu Á. Hàng loạt các nhà nghiên cứu văn hóa từ phương Tây đã tìm thấy tại châu Á một kho báu vô tận. Nổi tiếng nhất trong số này là Elêna Blavatxcaia với bộ Học thuyết bí ẩn và hàng loạt tác phẩm khác, Alêchxanđra Đavid-neel vớiMột Lạt ma đắc ngũ thông và Cuộc vi hành của một phụ nữ từ Paris đến Lhassa, gia đình họa sĩ nổi tiếng người Nga Rêrích với hàng loạt tác phẩm hội họa nổi tiếng và thuyết Agni Yoga, Anbert Griuvedel - người đầu tiên dịch Tử thư Tây Tạng sang tiếng Đức, Guidziev - người được phương Tây coi là bậc giác ngộ...

       Khi nghiên cứu nền văn minh Phật giáo tại Ấn Độ và Tây Tạng tất cả các học giáo nọ đã được nghe về một xứ sở huyền thoại, nơi chỉ có các bậc đắc đạo đang sống, tu luyện và bằng trí tuệ vượt bậc cùng quyền năng siêu phàm đã và đang giúp đỡ loài người. Xứ sở này có tên là Sambala hay Sambala. Bắt đầu từ khi bộ sách Học thuyết bí ẩn của Elêna Blavatxcaia được xuất bản vào thế kỷ XIX, xã hội châu Âu đã được biết đến Sambala. Elêna Blavatxcaia khẳng định là đã nhận được từ một số vị Thầy - Đạo sư sống ở đâu đó trong rặng Himalaya các thông tin được truyền qua không gian. Các thông tin đó sau này được bà viết lại trong bộ Học thuyết bí ẩn.

       Ta cũng có thể tìm thấy xứ sở tương tự như Sambala trong các truyền thuyết của các dân tộc khác. Trong truyền thuyết của người Nga và người Hy Lạp cũng có xứ sở tương tự được gọi là Belovodie (xứ sở Nước bạc) hay Kitez Giao (thành Kitez) ở đâu đó vùng Antai và hồ Bai can, người Trung Quốc tin rằng ở đâu đó phía tây Trung Quốc trong dãy núi Côn Luân có núi Ngọc Bích, nơi mà các bậc đắc đạo như Lão Tử vẫn đang sống và tu luyện. Truyền thuyết của người Ấn Độ cho rằng phía bắc dải Himalaya có ngọn núi huyền thoại Meru - trung tâm của thế giới. Trên núi này có hoàng đế của thế giới thần linh là Indra đang sinh sống. Ngay trong kho lưu trữ của tòa thánh Vatican dòng Giatô giáo (Catolic) và thư viện của tòa thánh dòng chính thống giáo (Pravoslav) tại Hy Lạp có lưu trữ những tài liệu của một vài nhà truyền giáo thời trung cổ viết về một xứ sở kỳ lạ nằm tại phương Đông có tên là “Xembala”. Các nhà truyền đạo này trong khoảng thời gian khác nhau, cách nhau hàng trăm năm trong quá trình truyền giáo đã có may mắn rơi vào xứ sở diệu kỳ này.

       Những gì họ nhìn thấy tại đây cho thấy một nền văn minh vượt trội hơn nhiều lần những gì họ đã được biết. Các văn bản còn lại cho thấy các vị này không giấu được sự ngạc nhiên và xúc động trước những gì họ đã gặp tại xứ sở này.

       Vậy thì Sambala có tồn tại thật không, nếu tồn tại thật thì vị trí nằm ở đâu? Câu hỏi này trong hàng ngàn năm qua đã khiến bao nhiêu bậc đạo sư, thiền sư, pháp sư và yogi đời xưa rồi các nhà khoa học đời nay trăn trở. Trong thế kỷ XX ngay từ trước chiến tranh thế giới thứ II đã có rất nhiều đoàn thám hiểm cả của tư nhân lẫn của nhà nước Anh, Pháp, Mỹ, Đức quốc xã, Liên Xô đi tìm xứ sở kỳ diệu trong truyền thuyết này. Nhưng tất cả các bản đồ hướng dẫn kể cả các bản từ thời rất xa xưa đều không giúp họ tìm ra được Sambala. Đằng sau những bức tường băng tuyết của Himalaya là những hoang mạc rồi vùng núi non hiểm trở của Trung Á, là cao nguyên Tây Tạng với những trận gió dữ dội và lạnh buốt. Tiếp đó là rặng núi Côn Luân với chiều dài hơn cả Himalaya và không thua kém gì độ cao, sau Côn Luân là hai hoang mạc cằn cỗi nhất thế giới là Gôbi và Takla-Makan và tiếp lên phía bắc là rặng núi Pamir, Thiên Sơn rồi Antai. Khu vực rất rộng lớn này trên bản đồ thế giới cho đến nay được coi là vùng đất bí ẩn nhất của châu Á. Nhưng mặt khác tất cả các vùng trên trái đất từ lâu đã được nghiên cứu kỹ, đã được chụp ảnh từ máy bay và vệ tinh mà vẫn không tìm ra dấu vết Sambala. Thậm chí có ý kiến cho rằng Sambala vẫn nằm ở đâu đó tại Himalaya nhưng trong một chiều không gian khác nên con người chưa thấy được, một số vị lạt ma uy tín lại nói rằng, con đường tìm đến Sambala chính là con đường tìm đến với chính mình và trong mỗi người đều có một bản đồ để đến với Sambala. Chỉ cần tìm trong chính mình và khi giác ngộ được điều này thì sẽ xuất hiện lời giải đáp.

       Còn với Muđasep, tác giả tập sách bạn đang cầm trên tay thì ông đã rời “Vòng tay Sambala” với nhiều cảm nhận, nhiều suy tư, nhiều giả định và phương châm sống: TÂM HỒN TRONG SẠCH.

 Bức thông điệp bi thảm của cổ nhân thể hiện ở độ cao của núi thiêng Cailat (6666 mét) mang ý nghĩa toàn cầu, nó nhắc nhở ta về những quy luật của hành tinh chúng ta. Nhưng tại sao các quy luật đó lại liên can tới những con số 6666 dữ tợn? Bởi Trái đất vốn hiền hòa và hành tinh chúng ta vốn xanh tươi cơ mà!

       Tiến sĩ y học, giáo sư, giám đốc Trung tâm phẫu thuật mất và tạo hình Liên bang Nga của bộ Y tế Nga, thầy thuốc công huân đã được thường huy chương "Vì những cống hiến cho ngành Y tế nước nhà", nhà phẫu thuật hàng đầu, nhà tư vấn danh dự của đại học Tổng hợp Luinsvin (Hoa Kỳ), viện sĩ Viện hàn lâm nhãn khoa Mỹ, bác sĩ nhãn khoa có bằng của Mêhicô, kiện tướng môn du lịch thể thao, ba lần đạt kiện tướng của Liên bang Xô Viết.

       Erơnơ Munđasep là nhà bác học lớn có tên tuổi trên trường quốc tế. Ông là người khai sáng phương hướng mới trong Y học - phẫu thuật tái sinh, tức phẫu thuật "cấy ghép" mô người. Ông là người đầu tiên trên thế giới tiến hành phẫu thuật cấy ghép mắt thành công. Hiện nay ông đang nghiên cứu những cơ sở của phẫu thuật tái sinh hàng hoạt các cơ quan của cơ thể con người.

       Nhà bác học đã nghiên cứu 90 loại phẫu thuật mới, sáng chế và đưa vào ứng dụng 60 loại nguyên liệu sinh học alloplant, công bố trên ba trăm công trình khoa học, nhận 56 bằng sáng chế của Nga và nhiều nước trên thế giới. ông đã thỉnh giảng và phẫu thuật ở trên 40 nước. Hàng năm phẫu thuật từ 600 đến 800 ca phức tạp nhất.

       Erơnơ Munđasep thú nhận rằng, cho đến giờ ông vẫn chưa hiểu hết thực chất của sáng chế chủ yếu của mình là nguyên liệu sinh học "anoplant", được chế tạo từ mô người chết, mang trong mình nó những cấu tạo tự nhiên cao siêu trong việc sáng tạo cơ thể con người, vì thế trong quá trình nghiên cứu, ông không chỉ tiếp xúc với các nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực (vật lý, sinh học phân tử...) mà còn tìm hiểu cơ sở của các tín ngưỡng tôn giáo và huyền học, nghiên cứu năng lượng tâm thần và những vấn đề có liên quan đến nguồn gốc loài người và vũ trụ.

      Chính vì thế ông đã tổ chức bốn chuyến khảo sát khoa học Himalaya và Tây Tạng rất hữu ích đối với việc tìm hiểu phẫu thuật tái sinh. Ngoài ra trong những chuyến đi thám hiểm đó còn có những khám phá mang tính lịch sử và triết lý. Sau chuyến đi khảo sát thành công Himalaya lần thứ nhất Erơnơ Munđasep đã cho ra đời cuốn Chúng ta thoái thai từ đâu được tái bản nhiều lần và dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới.

      Xin giới thiệu với độc giả cuốn sách mới của ông Bức thông điệp bi thảm của cổ nhân, một câu chuyện kể dí dỏm, hấp dẫn, nhưng thực chất mang tính khoa học sâu sắc, đề cập tới những vấn đề triết học toàn cầu.

 Ernst Muldashev - tiến sĩ y học, giáo sư, giám đốc Trung tâm phẫu thuật mắt và tạo hình Liên bang Nga của bộ Y tế Nga, thầy thuốc công huân đã được thưởng huy chương "Vì những cống hiến cho ngành Y tế nước nhà", nhà phẫu thuật hàng đầu, nhà tư vấn danh dự của đại học Tổng hợp Luinsvin (Hoa Kỳ), viện sĩ Viện hàn lâm nhãn khoa Mỹ, bác sĩ nhãn khoa có bằng của Mêhicô, kiện tướng môn du lịch thể thao, ba lần đạt kiện tướng của Liên bang Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô Viết.

     Erơnơ Munđasep là nhà bác học lớn có tên tuổi trên trường quốc tế. Ông là người khai sáng phương hướng mới trong Y học - phẫu thuật tái sinh, tức phẫu thuật "cấy ghép" mô người. Ông là người đầu tiên trên thế giới tiến hành phẫu thuật cấy ghép mắt thành công. Hiện nay ông đang nghiên cứu những cơ sở của phẫu thuật tái sinh hàng hoạt các cơ quan của cơ thể con người.

     Nhà bác học đã nghiên cứu chín mươi loại phẫu thuật mới, sáng chế và đưa vào ứng dụng sáu mươi loại nguyên liệu sinh học alloplant, công bố trên ba trăm công trình khoa học, nhận năm mươi sáu bằng sáng chế của Nga và nhiều nước trên thế giới. Ông đã thỉnh giảng và phẫu thuật ở trên bốn mươi nước. Hàng năm phẫu thuật từ sáu trăm đến tám trăm ca phức tạp nhất.

     Erơnơ Munđasep thú nhận rằng, cho đến giờ ông vẫn chưa hiểu hết thực chất của sáng chế chủ yếu của mình là nguyên liệu sinh học "alloplant" được chế tạo từ mô người chết, mang trong mình nó những cấu tạo tự nhiên cao siêu trong việc sáng tạo cơ thể con người, vì thế trong quá trình nghiên cứu, ông không chỉ tiếp xúc với các nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực (vật lý, sinh học phân tử...) mà còn tìm hiểu cơ sở của các tín ngưỡng tôn giáo và huyền học, nghiên cứu năng lượng tâm thần và những vấn đề có liên quan đến nguồn gốc loài người và vũ trụ.

     Chính vì thế ông đã tổ chức bốn chuyến khảo sát khoa học Himalaya và Tây Tạng rất hữu ích đối với việc tìm hiểu phẫu thuật tái sinh. Ngoài ra trong những chuyến đi thám hiểm đó còn có những khám phá mang tính lịch sử và triết lý. Sau chuyến đi khảo sát thành công Himalaya lần thứ nhất Erơnơ Munđasep đã cho ra đời cuốn Chúng ta thoát thai từ đâu được tái bản nhiều lần và dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới.

 

     Xin giới thiệu với độc giả cuốn sách mới của ông Trong vòng tay Sambala, một câu chuyện kể dí dỏm, hấp dẫn, nhưng thực chất mang tính khoa học sâu sắc, đề cập tới những vấn đề triết học toàn cầu.

R.T. Nigmatullin

Tiến sĩ Y học, giáo sư viện sĩ Viện HLKHTN Nga

           

   Hành Trình về phương đông

      Tác phẩm “ Life and Teaching of the Masters of the Far East » (1935) ”, hồi ký của Dr. Blair T. Spalding (1857 – 1953) Một phần của hồi ký đã được Nguyên Phong chuyển ngữ với tựa đề “Hành Trình Về Phương Đông” Nguyên tác có tất cả sáu quyển ghi nhận đầy đủ về cuộc hành trình gay go nhưng lý thú và tràn đầy sự huyền bí ở Ấn độ, Tây Tạng, Trung hoa và Ba tự Ba quyển đầu ghi lại những cuộc thám hiểm của phái đoàn từ Anh sang Ấn, sự gặp gỡ giữa phái đoàn và những vị thầy tâm linh sống ở Á châu, và ở dãy Hy Mã Lạp Sơn . Ba quyển sau là những ghi nhận riêng của giáo sư Spalding về các cuộc hành trình. Sự trao đổi kiến thức giữa phái đoàn và các vị thầy tâm linh, với bản tường trình của phái đoàn đã đưa đến những cuộc tranh luận sôi nổi. Cuối cùng thì ba người trong phái đoàn đã trở lại Ấn độ sống đời ẩn sĩ . Hồi ký của giáo sư Spalding là một công trình nghiên cứu nghiêm túc với nhiều dự kiện được phái đoàn ghi nhận đầy đủ một cách khoa học, và cho đến nay vẫn còn nhiều đọc giả hâm mộ, nhiệt liệt tán thưởng các quyển hồi ký này. Mời các bạn đọc những chương đầu của tác phẩm “Hành Trình Về Phương Đông”.

Mục Lục
Chương I : Một người Ấn lạ kỳ
Chương II : Người đạo sĩ thành Benares
Chương III : Khoa Học Thực Nghiệm Và Khoa Học Chiêm Tinh Bí Truyền
Chương IV : Trên Đường Thiên Lý
Chương V : Thành Phố Thiêng Liêng
Chương VI : Những Sự Kiện Huyền Bí
Chương VII: Vị Đạo Sĩ Có Thể Chữa Mọi Thứ Bệnh
Chương VIII : Đời Sống Siêu Nhân Loại
Chương IX : Cõi giới Vô Hình
Chương X : Hành Trình Về Phương Đông 
               
http://files.myopera.com/voluongkhanhlinh/files/Hanh%20trinh%20ve%20phuong%20dong.pdf

Hành trình về phương đông

 

Tây Tạng huyền bí (tên gốc tiếng Anh: The Third Eye - Con mắt thứ ba) là một cuốn sách được viết bởi Lobsang Rampa vào năm 1956. Cuốn sách được viết như là một tự truyện của một vị lạt ma   người Tây Tạng, sinh ra vào khoảng năm 1900 và được gửi vào tu viện từ năm lên bảy tuổi để huấn luyện về các vấn đề huyền bí theo truyền thống Tây Tạng rồi gửi sang thế giới phương Tây để quảng bá văn hóa Phật giáo của Tây Tạng ra thế giới bên ngoài.

   

                    -Bản phỏng dịch bởi Nguyễn Hữu Kiệt với tựa đề Tây Tạng huyền bí,  

                    -Bản phóng tác của Nguyên Phong với tựa đề Tây Tạng huyền bí

 

 

 



Trích nguồn: KHOA HỌC NĂNG LƯỢNG TÂM THỨC TOTHA

Tin khác
Home

Bản Quyền

Nội dung của website này được bảo vệ bởi Luật bản quyền. Website được đăng ký tại Cục Sở Hữu Trí Tuệ Việt Nam và được bảo vệ bởi Luật Pháp.Cấm mọi hình thức sao lưu phát tán , copy dữ liệu trên website mà chưa được sự đồng ý của chúng tôi.

Bài báo

Bài báo nghiên cứu , thảo luận và các vấn đề liên quan

Thư Viện

Thư viện chứa các video, audio, sách về Nhân Điện

Liên Hệ

TRUNG TÂM NHÂN ĐIỆN TÂY SƠN.