Nghiên cứu »Nhân Điện và đời sống »NHÂN ĐIỆN: Y KHOA, TRIẾT HỌC & ĐỜI SỐNG

Nhân Điện là một ngành học thuật tương đối hãy còn rất mới lạ đối với nhiều người, tổng quát Nhân Điện được biết đến như một ngành học y khoa trị bịnh không dùng dược phẩm thuốc men, thuộc ngành Y Học Bổ Sung, thành viên của Tổ Chức Y Học Bổ Sung Thế Giới, thành viên của Viện Y Học Bổ Sung Colombo, Sri Lanka.
Y Khoa nói chung là ngành học chuyên nghiên cứu về bệnh tật, những phương thức phòng trị bịnh, bảo vệ sức khỏe con người, Đông Y tượng trưng bởi nền y học Trung Hoa đã có từ nhiều ngàn năm trước đây, chủ yếu dùng dược tính của các loại cây cỏ để trị liệu bệnh tật, Tây Y được nghiên cứu bởi các nhà khoa học Tây Phương chủ yếu dựa trên các dược phẩm hoá chất, sau nầy được bổ sung bằng phẫu thuật, năng lượng. Hiện nay Tây Y chiếm được ưu thế trong việc chữa trị bệnh tật, được nhiều quốc gia Tây Phương nhìn nhận như một ngành y học chính thống, nhưng điều nầy không có nghĩa là chỉ có Tây Y mới có thể chữa trị được bệnh tật, bảo vệ được sức khỏe con người, thực tế nhiều ngành Y Học Bổ Sung như Khí Công, châm cứu, Yoga, Nhân Điện, vân vân, trong nhiều trường hợp cũng chữa trị được bệnh tật, phòng ngừa được ốm đau, bảo vệ được sức khỏe con người.

Y Học hay thuốc men, Đông y hay Tây y, dược thảo hay hoá chất đều có thể chữa trị được bệnh tật cho con người, nhưng sức khỏe con người không chỉ dựa vào dược liệu, thuốc men mà sức khỏe con người còn phải dựa vào rất nhiều yếu tố khác, ngoài những yếu tố vật chất hữu hình, sức khỏe con người còn tùy thuộc nhiều yếu tố tâm lý, tư tưởng, tình cảm, tâm linh, siêu hình, vân vân. Đây là điều rất hiển nhiên và cũng vô cùng thực tế, chúng ta không cần phải dẫn giải hay chứng minh điều gì cả, nhưng cũng trên thực tế rất ít người chú ý những điều nầy và thật là phi lý khi chúng ta chỉ nhìn nhận giá trị của các ngành học Tây Y, không coi trọng những ngành y học khác, không liên kết các ngành học thuật khác trong việc trị liệu bệnh tật, bảo vệ sức khỏe con người.

Nhân Điện, thực ra không chỉ là một ngành y học bổ sung, một phương thức trị bịnh bằng Năng Lượng Vũ Trụ như tên gọi hay như sự hiểu biết của nhiều người, thực ra Nhân Điện là một ngành học tổng hợp của nhiều ngành học thuật khác nhau mà y học chỉ là một ngành học cơ bản của Nhân Điện, bởi vì chỉ có môn học trị bịnh mới dễ được con người đặc biệt quan tâm, ai cũng muốn được khỏe mạnh, những ai có bệnh hoạn ốm đau đều muốn được trị lành, nhất là những chứng bệnh gọi là nan y, những chứng bịnh mà các môn y học Đông Tây đều không chữa trị được. Nhân Điện đã ra đời trong những bối cảnh đặc biệt đó, giữa thời đại văn minh tân tiến, giữa những xứ sở văn minh nhất như Mỹ, Pháp, Đức, Ý, vân vân, có những người bịnh, có những chứng bịnh không thể chữa trị bằng bất cứ một phương tiện y khoa tân tiến nào mà phải nhờ đến sự chữa trị của Nhân Điện, nhanh chóng nhẹ nhàng và không tốn kém.

Hàng triệu người đã theo học hoặc đã được chữa trị bằng Nhân Điện trong vòng 15 năm qua, là một bằng chứng xác thực nhất về hiệu qủa của phương pháp chữa trị bằng Nhân Điện, sử dụng Năng Lượng Vũ Trụ. Nói theo khoa học và có thể chứng minh bằng khoa học, bằng Năng Lượng Tâm Linh nói theo Tâm Linh với những ai nhìn nhận những giá trị của những yếu tố tâm linh trong đời sống con người. Hiện nay Nhân Điện đã đi vào những giai đoạn mới, với những cấp lớp Nhân Điện cao cấp, Thầy Đáng dần dần hướng dẫn Học Viên học hỏi sâu về Triết Học Tâm Linh, đặc biệt là ngành Triết Học Đông Phương, không chỉ để chữa trị bệnh tật ốm đau cho con người mà đặc biệt Triết Học Tâm Linh còn đóng giữ những vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống con người, đời sống vật chất, đời sống tinh thần, lẫn đời sống của tâm linh.

Đau bịnh thực ra chỉ là chuyện nhỏ của con người, của đời người, ở trên đời không ai không đau bệnh, dù được chữa trị hay không được hữa trị con người vẫn có thể vượt qua bệnh hoạn. Đau bệnh chưa phải là điều quan trọng nhất, ngay cả cái chết thực ra cũng chưa phải là cái quan trọng nhất, đau khổ mới là cái quan trọng của đời người, đau khổ mới cái con người lo sợ, quan tâm. Một người đau bịnh vẫn có thể không đau khổ, nhưng mà một người mạnh lành vẫn có thể đau khổ, cho nên dù chúng ta có y học, có thuốc men, có tất cả những phương tiện y khoa tân tiến nhất để bảo vệ sức khỏe bệnh hoạn, chúng ta vẫn cần đến Nhân Điện, cần đến Triết Học để tránh khỏi khổ đau, chúng ta không chỉ cần đến sức khỏe mà chúng ta còn cần phải có hạnh phúc, điều không có nền y học, y khoa nào có thể mang đến, chỉ có Triết Học mới có thể giải trừ đau khổ con người, mang lại hạnh phúc cho chúng ta, đó là lý do khi chúng ta theo học Nhân Điện, sau cùng chúng ta phải học về Triết Học.

Triết Học đối với nhiều người là danh từ văn chương khó hiểu, những lãnh vực học hỏi nghiên cứu cao sâu, xa vời, thực ra Triết Học luôn luôn gần gũi, thân thiết, hiện diện thường trực trong đời sống con người, trong cuộc sống, tư tưởng, tình cảm, hành động của tất cả chúng ta. Quá khứ, hiện tại và tương lai, bất kể người nào, bất kể giàu nghèo, sang hèn, văn minh hay là không văn minh, học thức hay là không học thức, thực ra hễ có cuộc sống là chúng ta có Triết Học và cuộc đời của chúng ta luôn luôn bị chi phối bởi những nền triết học chúng ta hấp thụ hay tiếp thu, chấp nhận hay từ chối, ý thức hay không ý thức.

Nói cho rõ hơn, nếu là nghiên cứu học hỏi, lý luận, vân vân, thì Triết Học có thể là lãnh vực gần như độc quyền của những người có học vấn cao, có hiểu biết rộng, của những học giả, của những nhà hiền triết, những bậc lãnh đạo tôn giáo, tinh thần, vân vân, nhưng trên phương diện thực tiễn, thực hành thì gần như tất cả mọi người đều cư xử, nói năng, hành động theo những ảnh hưởng của hoặc là nền triết học nầy hoặc môn triết học khác. Không ai có thể tránh khỏi ảnh hưởng của những tư tưởng triết học đã có trên xứ sở, đất nước, xã hội của mình, có điều là chúng ta thấy hay không thấy, biết hay không biết mà thôi, Triết Học luôn luôn hiện diện trong đời sống chúng ta như không khí luôn luân lưu trong buồng phổi, trái tim, máu huyết mà chúng ta lại thường không để ý tới.

Chúng ta có thể bắt đầu học Triết Học bằng cái ý nghĩa và phạm vi đơn giản nhất của Triết Học là Tư Tưởng, khi chúng ta bắt đầu có tư tưởng là chúng ta đã bắt đầu có Triết Học và chính tư tưởng đã chi phối đời sống của chúng ta, chi phối tâm tư, tình cảm, chi phối mọi hành động của chúng ta, chỉ có những người không có tư tưởng thì mới không có đời sống triết học, còn thì bất cứ ai, hễ có tư tưởng là có đời sống triết học và bởi vì mỗi người, mỗi cộng đồng, mỗi dân tộc, mỗi quốc gia, ở mỗi thời gian, mỗi không gian, có những tư tưởng khác nhau, cho nên chúng ta luôn luôn có những nền triết học khác nhau, đời sống khác nhau, văn minh khác nhau, hạnh phúc khác nhau, đau khổ khác nhau.

Mỗi người đều có tư tưởng và có tư do tư tưởng, tuy nhiên trên thực tế con người luôn luôn bị chi phối bởi một số tư tưởng lớn nào đó mà người ta gọi là Triết Học, đặc biệt là những tư tưởng về tâm linh mà người ta gọi là tín ngưỡng, tôn giáo. Tư tưởng có thể giúp con người tiến bộ văn minh, nhưng mà đồng thời tư tưởng cũng có thể dẫn dắt con người đến những sai lầm, tai hoạ, cho nên chúng ta phải rất cẩn trọng khi tiếp nhận bất cứ một nền tư tưởng triết học nào, Đông Tây hay Kim Cổ, vật chất hay Tâm Linh. Triết Học nào cũng có những ưu khuyết điểm của nó, cũng có những giá trị tương đối mà thôi, chúng ta không thể coi thường một nền triết học nào mà cũng khôg thể qúa coi trọng một nền triết học nào, mọi vật chất đều có thể biến đổi thì mọi tư tưởng đều có thể biến đổi, biến đổi ra sao, biến đổi thế nào, biến đổi khi nào là những điều chúng ta cần phải nghiên cứu, học hỏi.

Tại sao chúng ta cần phải nghiên cứu, học hỏi các nền Triết Học, đặc biệt là các nền Triết Học Đông phương, bởi vì như chúng ta đã nói Triết Học là tư tưởng và Triết Học chi phối đời sống con người, tư tưởng đúng sẽ dẫn dắt con người đến một đời sống tốt đẹp hơn, duy trì đời sống cá nhân, gia đình, xã hội, quốc gia tốt đẹp, trái lại những tư tưởng sai lầm sẽ dẫn dắt chúng ta đến một đời sống xấu, phương hại cá nhân, gia đình, xã hội, quốc gia, nhân loại. Quá khứ nhân loại đã trải qua quá nhiều cuộc chiến tranh tương tàn đẫm máu, hiện tại nhiều nơi trên thế giới cũng đang tranh chấp, chiến tranh, chém giết, hận thù, cuộc chiến tranh khủng bố đã và đang tiếp tục xảy ra trên thế giới có nguyên nhân là sự khác biệt tư tưởng chỉ có thể giải quyết bằng sự giải toả những tư tưởng thù hận của con người mà thôi. Tương lai thế giới vẫn không ngừng tranh chấp, hận thù; khoa học, kỹ thuật cần thiết cho tiến bộ văn minh nhưng chỉ có Triết Học mới giải quyết được những hận thù, tranh chấp của con người, đưa nhân loại đến một thế giới an bình, hạnh phúc.

Trở lại với những vấn đề cụ thể và thực tế, bệnh hoạn và sức khỏe con người, bỏ qua những nguyên nhân thông thường của bệnh tật, ốm đau, những điều kiện vệ sinh, môi trường, không khí, nước uống, vi trùng, vân vân, những báo cáo y khoa mới nhất cho rằng sức khỏe, tuổi thọ con người tùy thuộc ý chí, tư tưởng con người, ý chí cầu sinh mạnh mẽ là thần dược giúp con người chống lại bệnh tật hữu hiệu nhất, tinh thần lạc quan yêu đời giúp con người sống lâu hơn, đau khổ buồn rầu, bi quan yếm thế là những nguyên nhân trực tiếp dẫn đến bệnh hoạn ốm đau, hận thù là chứng bịnh không có thuốc trị, vân vân. Tất cả những điều chúng ta vừa nói là phạm vi của Triết Học, tên gọi của ngành Nhân Điện ?oNhân Loại, Giác Ngộ, Tình Thương? chính là một tên gọi Triết Học với ba đối tượng nghiên cứu học hỏi Nhân Loại, Giác Ngộ, Tình Thương, những giải đáp về đau khổ, hạnh phúc của con người, những điều quan trọng ai ai cũng cần đến, cần nghiên cứu học hỏi, cần thực hiện thực hành.

Tình thương là danh từ rất thông dụng, gần như ai ai cũng biết, ai ai cũng nói đến, nhưng mà ít có ai thấy những giá trị thực tiễn của nó, mỗi khi đau bịnh ai ai cũng nghĩ đến thuốc men mà không ai nghĩ đến tình thương, thực tế nhiều khi bịnh hoạn ốm đau chỉ cần đến tình thương thôi chúng ta cũng đủ để trị lành bịnh mà không cần đến thuốc men. Đây không phải là thứ lý thuyết suông, những lời hoa mỹ mà là những điều rất thực tế, thí dụ chúng ta có thể trưng dẫn rất nhiều bằng chứng, nếu chúng ta biết thương thân xác của chính mình để không bắt nó phải làm việc quá sức, chúng ta không nhịn đói khi cơ thể cần ăn, không nhịn khát khi cơ thể cần uống, không chịu rét khi cơ thể cần ấm, không nghỉ ngơi khi cơ thể mệt mõi, v.v., thì chắc là chúng ta sẽ tránh được nhiều bệnh tật, chỉ cần chúng ta thương yêu những yếu tố tinh thần, tình cảm của mình, đừng hận thù, đừng lo lắng, đừng tức giận, đừng mưu cầu thì chắc chắn chúng ta sẽ giảm đi rất nhiều bệnh tật ốm đau.

Thương mình thì ích lợi cho bản thân mình, cái đó đã rõ nhưng thương người chắc chắn cũng mang lại muôn ngàn ích lợi cho bản thân, gia đình, xã hội, quốc gia, nhưng mà tình thương phải luôn luôn đi kèm với sự giác ngộ, nếu không có giác ngộ, thay vì mang lại lợi ích, tình thương có thể mang lại những điều tai hại. Giác ngộ mang tính triết học rõ ràng và nó đòi hỏi những công phu học tập thường thì lâu dài và khó khăn; giác ngộ là từ ngữ và đối tượng của các nhà tu hành mà trên thực tế cũng ít người đạt được trình độ giác ngộ ngay cả những nhà tu hành có than phận danh vị cao quí, những người thường không có tâm sức tâm cơ tu học tiến hoá thì càng khó có được sự giác ngộ, mà nếu không có được sự giác ngộ thì con người không thể tránh khỏi bệnh hoạn ốm đau, càng không thể tránh khỏi đau khổ và không thể nào có được hạnh phúc. Do đó, Giác Ngộ là một đối tượng học hỏi nghiên cứu, ứng dụng chủ yếu của ngành Nhân Điện, chúng ta cần phải giác ngộ mọi vật và mọi việc, con người cần phải giác ngộ trong mọi hoàn cảnh, mọi sự vật, trong mọi thời gian, trong mọi không gian.

Thế giới hiện nay, kể cả những quốc gia nghèo khó nhất cũng xây cất nhiều trường học, nhiều quốc gia có đủ các loại trường học, có cả những trường Triết Học chuyên biệt, nhưng mà thực tế lịch sử nhân loại trong nhiều ngàn năm qua chưa hề có một trường lớp nào dạy cho con người thứ Triết Học thực tiễn, vừa thực dụng vừa cao siêu như ngành Nhân Điện, thực dụng là Tình Thương, cao siêu là Giác Ngộ, đơn giản mà sâu xa, đơn sơ mà đầy đủ. Tình Thương của Nhân Điện không chỉ là thứ tình thương lý thuyết mà là thứ tình thương cụ thể và lợi ích, tình thương của Nhân Điện không phải là thứ tình thương suông mà là thứ tình thương có năng lực, gần như bất cứ một Học Viên Nhân Điện nào cũng có được ít nhiều năng lực tâm linh để thực hiện tình thương bằng cách truyền điện để hoặc là cứu mình hoặc là cứu người.

Người Học Viên Nhân Điện không cần phải nói là mình thực hiện thực hành tình thương một cách vô vị lợi, cái nầy không thực tiễn và không thích hợp với tâm lý con người, với bản tính thiên nhiên con người nào cũng ham muốn lợi lộc, không có lợi lộc không ai muốn làm, không ai muốn theo đuổi, điều quan trọng là những lợi lộc nầy phải hợp tình lý con người, hợp với xã hội, luật pháp, hợp với tâm linh, vân vân; cái lợi lộc tình thương người Học Viên Nhân Điện mưu cầu là sức khỏe, niềm vui, hạnh phúc, thể xác, linh hồn là những lợi lộc hoàn toàn chính đáng, đây là những thứ chúng ta có quyền mưu cầu, đây là thứ triết học thực tiễn và hữu dụng của ngành Nhân Điện.

Từ ngữ Giác Ngộ của Nhân Điện có ý nghĩa tương tự như từ ngữ Giác Ngộ của Phật Giáo và nhiều tôn giáo khác, nhưng mà ý nghĩa và nội dung của Giác Ngộ mà ngành Nhân Điện nghiên cứu, học hỏi, thực hiện thực hành không mang bất cứ màu sắc tôn giáo nào hết, Giác Ngộ là sự nhận thức chân thật nhất và thâm sâu nhất của mỗi con người đối với mọi sự vật, mọi sự việc, những nhận thức của tâm thức mỗi con người do sự chỉ dạy của các Đấng Thiêng Liêng Cao Cả vô hình, không phải của bất cứ ai, của bất cứ sách vở, kinh sách nào của loài người.

Cho nên chúng ta không thể nói Nhân Điện thuộc vào một ngành học nào, một tôn giáo nào, Giác Ngộ là giải thoát mọi ràng buộc của phong tục, tập quán, tư tưởng tư duy của người khác. Thế giới Tây Phương luôn đề cao tự do nhưng chỉ có tự do tư tưởng mới là tự do thực sự, nội dung Triết Học của ngành Nhân Điện là thứ Triết Học tự do, Giác Ngộ phải là giác ngộ tự do chớ không phải là giác ngộ theo bất bất cứ thứ tư tưởng nào, không phải là thứ giác ngộ của Tôn Giáo nầy hay tôn giáo khác, của tín ngưỡng nầy hay tín ngưỡng khác, của văn hoá nầy hay văn hoá khác.

Để có được thứ Giác Ngộ chân xác nầy, thứ Triết Học chân chính nầy, những lớp học Nhân Điện của Thầy Đáng gồm có hai phần, phần Thầy Đáng truyền năng lượng cho Học Viên, khoa học gọi là Năng Lượng Vũ Trụ, những người tin tưởng tâm linh gọi là Năng Lượng Tâm Linh, phần thứ hai Thầy Đáng giảng giải những câu hỏi, thắc mắc của các Học Viên, những câu hỏi không hạn chế đề tài về cuộc sống, vật chất hay là tâm linh, thực tế chứng minh là Thầy Đáng đã được Giác Ngộ tâm linh cho nên gần như bất cứ câu hỏi nào của Học Viên, dù trong bất cứ lãnh vực nào Thầy Đáng cũng đều có thể trả lời, và trả lời ngay tức khắc, không cần thời gian suy nghĩ, không có sách vở nghiên cứu, không có trình độ giác ngộ tâm linh cao Thầy Đáng không thể thực hiện được điều nầy, điểm quan trọng nhất là Thầy Đáng dạy cho môn sinh của Thầy cũng đạt được trình độ minh triết giác ngộ, đặc biệt là cũng có được những khả năng Tâm Linh, những năng lực Tâm Linh.

Khả năng và năng lực Tâm Linh là những phạm trù đặc biệt nhất của ngành Nhân Điện, sự khác biệt lớn nhất của ngành học Nhân Điện với bất cứ một ngành học thuật nhân sinh nào khác, nhưng đây cũng là phạm vi Nhân Điện còn bị nhiều người ngộ nhận, không hiểu hoặc đả kích. Bởi vì Tâm Linh là thế giới của những năng lượng siêu hình cho nên chúng ta rất khó trình bày cho người khác hiểu và rất khó tránh khỏi sự xuyên tạc khi ta trình bày vấn đề, tuy nhiên chúng ta cũng cần phải có đủ sự can đảm để trình bày sự hiện diện và thực chất của những năng lượng tâm linh trong đời sống con người, thế giới nhân sinh.

Điều kỳ lạ là trong khi các tôn giáo lớn trên thế giới, Thiên Chúa Giáo, Phật giáo, Hồi Giáo, Ấn Giáo, vân vân, đều dạy dỗ con người tin tưởng và cầu nguyện các Đấng Thiêng Liêng thì nhiều người lại không chịu chấp nhận niềm tin tâm linh của những người khác. Nhân Điện có niềm tin tâm linh và dạy dỗ Học Viên luôn luôn tin tưởng và cầu nguyện các Đấng Thiêng Liêng Cao Cả không có gì khác biệt với niềm tin của các Tôn Giáo, hơn nữa Nhân Điện còn khuyên Học Viên hãy tin tưởng và cầu nguyện chính các Đấng Thiêng liêng Cao Cả của chính Tôn Giáo của mình, những Học Viên Phật Tử hãy cầu nguyện Phật, những Học Viên Đạo Chúa hãy cầu nguyện Chúa, như vậy những lời đả kích niềm tin tâm linh của Học Viên Nhân Điện quả thật là phi lý và bất công.

Học Viên Nhân Điện chẳng những có niềm tin tâm linh như những con người nhân bản bình thường khác mà Học Viên Nhân Điện còn có khả năng cảm nhận sự hiện diện của Các Đấng Cao Cả Thiêng Liêng, sự cảm nhận bằng những dòng điện tâm linh siêu hình trên cơ thể của mình, nhờ đó những lời cầu nguyện Các Đấng Cao Cả Thiêng Liêng của các Học Viên Nhân Điện thường khi mang lại những kết qủa cụ thể, nhiều chứng bịnh nặng được trị lành nhanh chóng mà không cần đến thuốc men, đặc biệt là việc trị lành nhanh chóng những chứng bịnh tâm thần có nguyên nhân tâm linh, những hiện tượng lạ như thần tiên trong việc truyền điện để phát triển lương thực, cây trồng, chăn nuôi, v.v.
Minh Triết Giác Ngộ là nói chung, thực tế dù cho được học hỏi thế nào, mỗi người có một tâm linh khác nhau, cho nên mỗi người cũng có một trình độ minh triết giác ngộ khác nhau, ứng dụng trong mỗi hoàn cảnh khác nhau, cho nên mỗi lớp học Thầy Đáng có những lời giảng giải khác nhau, mỗi lời giảng giải thường chỉ có tính cách khai tâm, thí dụ chớ không có tính cách khẳng định, bởi vì như Thầy Đáng thường nói chân lý là thay đổi, minh triết cũng là thay đổi, giác ngộ cũng là thay đổi, cho nên chúng ta không thể có một lời khẳng quyết nào cho bất cứ vấn đề nào, sự việc nào, một câu nói hôm nay có thể đúng nhưng ngày mai thì có thể là không đúng và ngược lại, đây cũng là một bài giảng triết học khá phù hợp với thuyết khoa học tương đối của nhà Bác học Albert Einstein.

Nhân Điện và Thầy Đáng chỉ đề ra vỏn vẹn ba mục tiêu học hỏi nghiên cứu để vươn tới: Nhân Loại, Giác Ngộ, Tình Thương, nhưng nếu thực hiện thực hành được đầy đủ, đúng đắn ba mục tiêu nghiên cứu học hỏi nầy, chúng ta không cần phải thắc mắc Nhân Điện là ngành học gì, Nhân Điện có phải là ngành học y khoa hay không, có là y khoa chính thống hay là y học bổ sung, không cần thắc mắc Nhân Điện là một ngành học tôn giáo, tư tưởng hay là Triết Học, điều chúng ta cần biết là Nhân Điện có thể mang lại cho chúng ta những điều chúng ta, con người, cá nhân, gia đình, xã hội, quốc gia đều mơ ước: hạnh phúc, may mắn, sức khỏe, niềm vui, v.v...

Trích: Dr. THÁI TẤN TRUYỀN

 

Tin khác
Tin mới
Phong thủy - Nhân Điện ứng dụng
Ngôn ngữ
Language: loading...
Calendar
Liên kết
Sự kiện
Thống kê
Trực tuyến: 10
Hôm nay: 813
Hôm qua: 847
Tháng này: 28938
Tháng trước: 27254
Lượt truy cập: 1039297
Quảng Cáo
  • Facebook
Designed by: WEB60S.COM

HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN
  • Điện thoại: 04- 6 2947292 - 097 6661313
  • E-mail: info@nangluongcuocsong.com.vn
  • Tư vấn khóa học giải đáp về Nhân Điện
  • Hỗ trợ các vấn đề trên website